Tộc Văn và sự hình thành Đất Thuận Hoá

Thứ hai - 06/06/2011 22:18
Vạn vật có được do Trời đất, con người sinh ra từ Tổ tiên; cây có gốc, nước có nguồn; uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Đó là cảm niệm của người đời vậy.

 

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TỘC VĂN THỪA THIÊN HUẾ

LỜI NÓI ĐẦU

“物本乎天,人生乎祖”

“木有本,水有源”

“飲河思源,食果思樹”

“Vật bổn hồ thiên,nhân sinh hồ Tổ”

“Mộc hữu bổn, thủy hữu nguyên”

“Ẩm hà tư nguyên,thực quả tư thụ”

Vạn vật có được do Trời đất, con người sinh ra từ Tổ tiên; cây có gốc, nước có nguồn; uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

 Đó là cảm niệm của người đời vậy. Uống và ăn, nguồn và cây chỉ là sự vật .Đối với việc ấy còn không thể quên ghi nhớ. Huống gì đối với người sinh thành ra ta, khai sáng đầu tiên, thì tấm lòng ghi nhớ của ta phải như thế nào ? Hậu nhân chúng ta có tấm thân bảy thước này, đội lấy cái tên Văn Đức, Văn Đình, Văn Công, Văn Quý, Văn Hữu,Văn Tiến, Văn Viết, v.v… Nam hay Nữ, há chẳng phải nhờ huyết thống của Tổ Tiên ta chi phối hay sao? Thân này, danh này được tạo nên, không kể công danh sự nghiệp lớn hay nhỏ, ai chẳng do ân đức của Tổ Tiên để lại. 

Đi ngược lại từ thuở ban đầu. Họ tộc ta mang tên Văn  tộc, Tổ Tiên ta đã trãi lắm công lao, biết bao thời đại để gầy dựng gian nan. Ngửa trông công đức của Tổ Tiên tốt đẹp, Tộc phổ đã ghi tường tận . Từ đó mới biết được từ khi Tổ Tiên khai sáng dòng Họ đều đã lấy: Nhân cơ - Nghĩa chỉ làm tông chỉ duy nhất. Cho nên gia pháp uy nghiêm, tộc quy đứng đắn, việc lớn việc nhỏ chẳng sai , nghiễm nhiên đã trở thành một gia tộc hoàn toàn tốt đẹp, lưu truyền từ bao đời đến nay còn có thể thấy rõ.

Thơ Lục Nga trong Kinh Thi nói rằng: “ Dục báo ân đức, hạo thiên võngcực” (Muốn báo ơn đức , trời cao vô bờ), nghĩa là khó mà báo đáp công đức của Tổ Tiên vậy. Là con cháu, chúng ta phải dốc chí hiếu đạo, đồng tâm nhất trí giữ gìn đức hạnh và làm cho sáng tỏ Tổ Tông , để cho dòng họ ta ngày càng thịnh vượng, tiến lên cùng với các họ tộc khác để nước nhà tươi sáng vậy.

 

-Ai cũng có một Quê hương nơi mình sinh ra để mà yêu – Một Đất nước để bảo vệ và xây dựng – và một Dân tộc để phụng sự.

 Đó là cái chung cho một Dân tộc. Còn cái chung cho một Dòng Tộc liệu có khác hơn chăng?

  • Chúng ta có cái để yêu như yêu quê hương, đó chính là Cha mẹ.
  • Chúng ta có cái để bảo vệ và xây dựng, đó chính là Tổ tiên.
  • Chúng ta có cái để phụng sự suốt quãng đời ta, đó chính là Dòng tộc    (Họ tộc). Cái tên mà khi mới chào đời ta được mang, lớn lên ta được hưởng, và cho đến khi từ giã cuộc đời, chúng ta cũng không trao lại cho ai khác, ngoài VĂN TỘC của chúng ta.

 

Dòng họ là một nhân tố đặc biệt của lịch sử - xã hội, dòng họ mang tính phổ quát của nhân loại. Ý thức về dòng họ là dấu hiệu quan trọng, đánh dấu bước phát triển của xã hội loài người từ mông muội cho đến văn minh. Cho nên nghiên cứu về lịch sử dòng họ là một điều tất yếu. thế hệ nào cũng phải làm, phải nghiên cứu.

Văn tộc chúng ta đã có mặt trên mọi miền đất nước, từ Bắc chí Nam. Hành trình mở mang bờ cõi về phương Nam của Tổ Tiên mang âm hưởng bi và hùng. Thời gian có thể làm cho sông cạn đá mòn, nhưng những dấu chân của Tổ Tiên đễ lại trên vùng đất phương Nam không thể xóa nhòa, cho dù trãi qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử.

Việc tìm rõ về tông tích nguồn cội, công đức của Tổ Tiên của chúng ta đã trãi dài trên mười thế kỷ, thật là một việc làm muôn vàn khó khăn. Song một phần nào đó để nhận thức về cội nguồn, công đức Tổ Tiên, liệu có thể đền đáp ân đức của Tổ Tiên trong muôn một hay chăng?

         族之有譜猶國之有史。蓋史以記一國之紀綱  .

譜 記一族之世系精粹命脉。於是在族先世積德累仁其來也遠矣。

                生千載之下。食思樹飲河思源。子子孫孫勿世引之。

“Tộc chi hữu phổ do quốc chi hữu sử. cái sử dĩ ký nhất quốc chi kỷ cương.

Phổ dĩ ký nhất tộc chi thế hệ tinh thần mạng mạch. Ư thị tại ngã tộc tiên thế tích đức lụy nhân kỳ lai dã viễn hỹ. Sinh thiên tải chi hạ. Thực quả tư thọ ẩm hà tư nguyên. Tử tử tôn tôn vật thế dẫn chi”.

(Họ có phả cũng như nước có sử. Sử để ghi chép dường mối của một nước. Phả để ghi chép thế hệ mạch lạc tinh túy của một họ. Như vậy họ ta đời trước đã tích đức chứa nhân để lại cho đời sau sung sướng. Sinh ở ngàn đời về sau ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn. Con con cháu cháu chớ quên điều ấy).

 Sự tư hữu về vật chất cũng như tinh thần của các thời kỳ, thậm chí tư hữu cả hương linh Tiên Tổ, nó đã được tiêm nhiễm vào con người qua nhiều thế kỷ. Đó là sản phẫm được để lại từ các cuộc chiến tranh từ ngoại xâm đến nội chiến, từ chế độ nông nô và phong kiến và nguy hiểm và tàn phá khốc liệt nhất là những cuộc nội chiến; Với chiến tranh chống ngoại xâm thì cả dân tộc cùng nhau đoàn kết, còn cuộc nội chiến thì toàn dân tộc chia rẽ. Nó đã đưa các họ tộc vào những ngõ tối về nguồn gốc, dòng giống Tổ Tiên, để rồi một sự phân chia máu thịt, hương linh: cha con ly tán, anh em chia cắt, điều này không chỉ riêng Văn Tộc của chúng ta. Có lẽ sự thất tán họ tộc cũng khởi nguồn từ những cuộc chiến tranh nội chiến đó.

Do phải ly hương, mà cố hương thì xa xôi vạn dặm. Cuộc sống trước mắt họ tuy no đũ, nhưng chưa hẵn thuận lợi bởi muôn và khó khăn khác đến với vùng đất mới, nào là phải đối phó với người bản địa (Chiêm Thành), với thiên tai của vùng đất Miền Trung, sự keo kiệt cả thổ nhưỡng bán sơn địa. Cho nên, con người lúc này mang trong mình tư tưởng tư hữu hóa đễ đè phòng cho những khó khăn trên.

Bên cạnh đó các biến động của xã hội về địa bàn dân cư, sự khắc nghiệt về khí hậu đặc biệt của Miền Trung, và do trình độ văn hóa còn thấp kém, nên nhiều tư liệu, dấu tích về Tiên Tổ bị quên lãng, mất mác nên về sau con cháu không được biết rõ và hiểu đúng về lịch sử Tổ Tiên dòng giống của mình.

Cuốn “VĂN TỘC PHẢ KÝ” đã được biên soạn, là một công trình đầu tiên có giá trị về Khoa Học Nhân Văn và  là một bản Trường Ca: Bi và Hùng, là tài sản quý báu và vô giá của Tổ Tiên TỘC VĂN để lại, được xây dựng hơn nữa thế kỷ trên mãnh đất Thuận Hóa này, có thể đem đến cho chúng ta hôm nay và thế hệ con cháu mai sau những hiểu biết mới lạ và những tình cảm đậm đà về nguồn gốc cùng ân đức của Tổ tiên.

Việc tìm về cội nguồn của dòng giống phải vượt qua muôn ngàn khó khăn và trở ngại, đó là những tư liệu thành văn bị thất tán mà lý do đã được trình bày ở trên, chỉ còn lại các gia phả của các Chi, Phái trong Tỉnh  mà cũng mới được sao chép ghi lại sau này, tài liệu về gia phả có lâu đời nhất cũng được chưa đến 150 năm (tại nghệ An), hoặc có gia phả chỉ mới sao chép vài ba, bốn chục năm cũng như gia phả của các tỉnh khác như: Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Trị …(Thừa thiên-Huế có từ 30-100 năm) cho nên phải sưu tầm thêm qua các khẩu truyền của các Ông, các Bác cao niên kể lại, trong khi đó Văn Tộc TT-Huế chúng ta đã có từ 20-22 đệ thế, có nghĩa là lịch sử hình thành và phát triển của Văn Tộc chúng ta tại TT-Huế đã có trên 500 năm.

Cuốn phả ký này có thể không mang đến một khả quan như chúng ta hằng mong đợi khi khám phá về nguồn gốc dòng họ và thế thứ ngọn ngành. Song ít nhiều cũng mang đến cho chúng ta và con cháu mai sau một nhìn nhận đúng đắn và hiểu biết hơn về Tổ Tiên.

Những gì có trong tập này đều do công lao của các bậc tiền nhân để lại, các vị cao niên hiện sinh kể, hoặc ghi chép theo gia phổ của các Chi Phái, hoặc sách sử nước nhà.

 BAN CHẤP HÀNH VĂN TỘC xin sao chép lại và trân trọng giới thiệu đến các Chi, Phái cùng toàn thể con cháu Tộc VĂN trong tỉnh Thừa Thiên Huế.

  Không phải là các nhà sử học, cũng không phải là các nhà văn, mà chỉ có tâm nguyện. Cho nên: tài mọn, trí thấp, ngôn bất thành cú, nông nỗi, không thể tránh khỏi nhiều điều sai sót.

 Kính cầu Tiên Tổ gia ân, các bậc cao niên tha thứ dạy bảo, các bậc tài cao hiểu rộng, góp ý bổ sung.

 Mong sao Văn Tộc của chúng ta có được một Phả Ký hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản khác, để lại cho muôn đời con cháu mai sau học hỏi, nối nghiệp Tổ Tiên.

 

先祖方名流國史

子孫積學繼家風

Tiên Tổ phương danh lưu quốc sử

Tử Tôn tích học kế gia phong

Mùa thu năm Canh dần (2010)

           BCH Văn Tộc

               Chủ Biên

 

 

          Văn Viết Thiện


PHẦN I

  • CHƯƠNG I:

 

VÙNG ĐẤT THUẬN HÓA XƯA VÀ THỪA THIÊN HUẾ NAY

Văn Viết Thiện

₪₪₪₪₪₪

A-NGUỒN GỐC ĐỊA LÝ.

 

Căn cứ vào các tài liệu lịch sử như: Ô Châu Cận Lục, Đại Nam Nhất Thống Chí, Phủ Biên Tạp lục, Sử liệu xứ đàng trong trước công nguyên thì xứ đàng trong từ Thuận Hóa trở vào thuộc đất của nước Đại Việt và do các Vua Hùng trị vì với 15 bộ, trong đó có Bộ Tộc Việt Thường.

1-Thời kỳ Bắc thuộc Nhà Hán. (TCN-179 đến thế kỷ thứ II SCN)

Dưới thời Bắc thuộc Nhà Hán, nước Âu Lạc chia làm 3 quận: Giao Chỉ-Cửu Chân và Nhật Nam. Phủ Thừa Thiên bấy giờ thuộc huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam.

Từ năm 192 người Chăm đánh đuổi người Hán ra phương Bắc, quận Nhật Nam trở thành Nước Lâm Ấp trải dài từ Đèo Ngang đến Thuận Hải với 5 Châu: Địa Lý- Ma Linh- Bố Chính-Ô-Lý. Năm 875 một vương triều mới lên làm vua trở thành triều đại Chiêm Thành với 38 châu với 100 thôn lạc.

2-Thời kỳ Nhà Lý. (1010-1225)

Đại Việt và Champa là hai nước láng giềng mà ranh giới là Đèo Ngang. Năm 1069 để trừng trị hành vi quấy phá của Chiêm Thành (Champa) và cũng để kiên quyết phá vỡ một âm mưu quan trọng trong âm mưu chuẩn bị xâm lăng của nhà Tống. Quân Đại Việt do đích thân Hoàng Đế Lý Thánh Tông (1054-1072) chỉ huy và Danh Tướng Lý Thường Kiệt làm tiên phong đã ồ ạt đánh xuống phương Nam. Chỉ trong một trận chớp nhoáng, toàn bộ lực lượng của quân Chiêm thành đã bị đè bẹp và Vua Chiêm Thành là Chế Cũ đã cắt đứt 3 châu: Bố Chính (Bố trạch-Quảng Trạch), Địa Lý (Quảng Ninh-Lệ Thủy-Tp Đồng Hới) và Ma Linh (Vĩnh Linh-Gio Linh) thuộc về Đại Việt và biên giới phía Nam của Đại Viêt sát tới vùng Châu Ô-Châu Rí.

3-Thời kỳ Nhà Trần.  (1226-1400)

Tháng 3 năm Tân Sửu (1301) Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đi chu du các nơi và đã sang tận Chiêm Thành. Chính trong cuộc chu du đó Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã hứa gả cho vua Chiêm Thành là Chế Mân một cô Công Chúa. Hơn 5 năm sau, tháng 6 năm Bính Ngọ(1306) lễ cưới Công Chúa Huyền Trân được tổ chức, quà sính lễ của cuộc hôn nhân lịch sử đó là: Châu Ô và Châu Rí (vùng đất từ phía Bắc Quảng Trị đến huyện Duy Xuyên Quảng Nam).

“Năm 1306, vua Chế Mân đã dùng hai châu Ô, Lý làm lễ vật dẫn cưới công chúa Huyền Trân (nhà Trần), một dải đất xung yếu từ bờ Nam sông Thạch Hãn đến bờ Bắc sông Thu Bồn đã gia nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Năm 1307, nhà Trần đã đổi tên châu Ô thành châu Thuận, châu Lý thành châu Hóa. Thừa Thiên Huế là một phần lớn của châu Hóa, mà cư dân chủ yếu còn là người Chăm sống rải rác ở đồng bằng sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương và sông Thu Bồn, kể cả vùng đầm phá ven biển. Từ đây, sự chung sống, hòa hợp giữa hai cộng đồng người Chăm bản địa và người Việt nhập cư khai hoang lập làng bắt đầu tạo nên những biến đổi tích cực trong việc xây dựng đất nước.

Từ năm 1307, công cuộc di dân chính thức của người Việt từ đồng bằng Thanh - Nghệ vào đất mới đã khởi đầu và ngày càng bổ sung thành phần cư dân Việt. Tại Thừa Thiên Huế việc di dân của người Việt diễn ra rải rác trong thuế kỷ XIV. Đến cuối thế kỷ XIV, nhà Trần đã lập tại vùng đất Hóa Châu 7 huyện mới: Trà kệ, Lợi Bồng, Sạ Lệnh, Tư Dung, Bồ Đài, Bồ Lãng và Thế Vinh với khoảng trên 40 làng, ấp, thôn, trại, sách.

Sau khi Chế Mân chết, công chúa Huyên Trân trở về Đại Việt, lấy cớ này các vua kế vị Chế Mân đem quân đánh châu Thuận và châu Hóa, các vua Trần đã phải nhiều lần cử quân đi đánh dẹp, đề ra nhiều đối sách như giao việc trấn giữ châu Hóa cho các trọng thần hay hoàng thân, năm 1372, vua Trần Nghệ Tông đã cất nhắc một viên quan người địa phương là Hồ Long làm Đại tri châu châu Hóa nhưng miền biên viễn này vẫn không yên ổn. Năm 1377, với sự kiện vua Trần Duệ Tông tử trận vì mắc mưu trá hàng của vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga, quân Chiêm Thành đã chiếm châu Thuận, châu Hóa, châu Tân Bình và Nghệ An trong suốt 12 năm, cho đến khi Chế Bông Nga bị quân Đại Việt bắn chết, quân Chiêm Thành tan vỡ, rút quân khỏi vùng đất này.

Năm 1391, vua Trần Thuận Tông cử Lê Quý Ly đi tuần châu Hóa, xét định quân ngũ, sửa chữa thành trì, châu Hóa mới ổn định.

Tình hình biến động trên vùng đất Thừa Thiên Huế rải rác suốt thế kỷ XIV, đã làm nhịp độ di dân vào đây chững lại. Chiến tranh cũng đã làm cho những làng mạc mới thành lập xơ xác, tiêu điều. Những thế hệ đầu tiên khai canh lập làng ấp phần lớn bị phiêu tán và ruộng đồng hầu hết hoang hóa, phải đến thế kỷ sau mới phục hồi.”

 

Theo Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Lịch sử

(Nhà Xuất bản Khoa học xã hội - năm 2005)

 

4-Thời kỳ Nhà Hồ. (1400-1407)

Đất Thuận Hóa được tiếp tục củng cố và mở rộng biên cương Đại Việt vào tận Quảng Nam và đặt thành 4 Châu: Thăng-Hoa-Tư-Nghĩa.

Năm 1407. Triều Nhà Hồ thất bại trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, Champa chiếm lại vùng đất: Thăng-Hoa-Tư-Nghĩa. Thuận Hóa trở thành biên viễn cực Nam của Đại Việt là địa bàn trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh mà tên tuổi được gắn liền với Đặng Tất, Đặng Dung, Trần Ngỗi.

5-Thời kỳ Nhà Lê. (1428-1527)

Đến đời Nhà Lê năm 1470 quân Champa đánh chiếm Hóa Châu (thuộc Thuận Hóa). Vua lê Thánh Tông đã đích thân dẫn 26 vạn quân chinh phạt Chiêm Thành, hạ thành Trà Bàn mở rộng biên giới đến tận Bình Định. Năm 1471 đặt Lộ Thuận Hóa thành Thừa Tuyên Thuận Hóa thuộc Phủ Triệu Phong của Đại Việt.

-Năm 1466 Thừa Tuyên Thuận Hóa gồm có 02 Phủ: Phủ Tân Bình và Phủ Triệu Phong. Phần đất của Thừa Thiên Huế hiện nay là thuộc ba huyện của Phủ Triệu Phong là: Kim Trà, Đan Điền và Tư Vinh và đã có tên trong  danh mục trong Hồng Đức bản đồ (1490).

              Lê Thánh Tông đã cho vẽ bản đồ chi tiết và đầy đủ về lãnh thổ Đại Việt và bộ bản đồ các vương quốc trong vùng (gọi là Thiên hạ bản đồ).

        Bộ bản đồ Đại Việt được hoàn thành năm 1490, gồm 13 thừa tuyên (sau đó đổi làm xứ) như sau:

  1. Nam Sách gồm (Hải Dương, Hải Phòng ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 18 huyện;
  2. Thiên Trường (Sơn Nam) gồm (Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên ngày nay), quản lĩnh 11 phủ, 42 huyện;
  3. Quốc Oai (Sơn Tây) gồm Hà Tây, Sơn Tây, Vĩnh Phúc ngày nay), quản lĩnh 6 phủ, 24 huyện;
  4. Bắc Giang (Kinh Bắc) gồm (Bắc Giang, Bắc Ninh ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 19 huyện;
  5. An Bang là (Quảng Ninh ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 3 huyện, 4 châu;
  6. Tuyên Quang gồm (Tuyên Quang, Hà Giang ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 2 huyện, 5 châu;
  7. Hưng Hóa gồm (Phú Thọ, Yên Bái ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 4 huyện, 17 châu;
  8. Lạng Sơn gồm (Cao Bằng, lạng Sơn ngày nay), quản lĩnh 1 phủ, 7 châu;
  9. Thái Nguyên (Ninh Sóc) gồm (Thái Nguyên, Bắc Cạn ngày nay), quản lĩnh 3 phủ, 8 huyện, 7 châu;
  10. Thanh Hóa gồm (Thanh Hóa, Ninh Bình ngày nay), quản lĩnh 4 phủ, 16 huyện, 4 châu;
  11. Nghệ An gồm (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), quản lĩnh 8 phủ, 18 huyện, 2 châu;
  12. Thuận Hóa gồm (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế ngày nay), quản lĩnh 2 phủ, 7 huyện, 4 châu;
  13. Quảng Nam gồm (Bình Định, Quảng NgãiQuảng Nam ngày nay)        Đạo thừa tuyên Quảng Nam được bổ sung sau cùng sau khi Đại Việt chiếm được miền bắc của Chiêm Thành (1471)

6- Thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh. (1558-1786)

Giai đoạn này Phú Xuân-Huế trở thành thủ phủ Đàng Trong.

       -Năm 1558. Tướng Nam Triều là Nguyễn Hoàng vào làm Trấn Thủ xứ Thuận Hóa. Năm 1570 ông được kiêm quản cả xứ Quảng Nam đặt thủ phủ tại Ái Tử - Quảng Trị.

“Do những mâu thuẫn nội bộ không thể giải quyết được trong triều đình Lê Trung Hưng, mà đặc biệt là sự kình địch của hai thế lực phong kiến đang dần dần lớn mạnh là họ Trịnh, đứng đầu là Trịnh Kiểm và họ Nguyễn (dòng dõi Nguyễn Kim) đứng đầu là Nguyễn Hoàng (Nguyễn Hoàng để tránh bị ám hại đã xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa).

Tháng 11/1558, Nguyễn Hoàng được lệnh vào trấn thủ Thuận Hóa với một quyền hạn rộng lớn “phàm mọi việc ở địa phương không kể to nhỏ đều cho tùy tiện xử lý”. Nguyễn Hoàng ra đi vừa để bảo toàn mạng sống, vừa tính kế phát triển sự nghiệp lâu dài, nên khi rời đất Bắc, ông đã lôi kéo một lực lượng đông đảo bao gồm nhiều tướng lĩnh (Văn Nham, Thạch Xuyên, Tiền Trung, Tường Lộc), binh lính (1000 thủy quân), và nhân dân các làng mạc ở huyện Tống Sơn, nghĩa dũng đất Thanh Hóa cùng một số quan lại, binh lính ở Thanh Hóa và Nghệ An. Đây chính là một cuộc di dân thực sự.

Trong suốt thời gian trấn thủ đất Thuận Quảng (1558 - 1613), Nguyễn Hoàng đã dốc sức củng cố thế lực, thu phục lòng người bằng lối cai trị mềm mỏng để đặt nền tảng cho việc xây dựng giang sơn riêng cho dòng họ mình. Và Thuận Hóa trở thành đất dựng nghiệp của họ Nguyễn.”

        -Năm 1626 Nguyễn Phúc Nguyên dời thủ phủ vào Phước Yên (nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh TT-Huế).

-Năm 1712 thủ phủ được dời ra Bác Vọng (Xả Quảng Phú huyện Quảng Điền)

 

7- Thời kỳ Triều Nguyễn(1802-1945)

Thời trièu Nguyễn, sau khi lên ngôi, Vua Gia Long chia cả nước thành 23 trấn và 4 dinh, Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc dinh Quảng Đức; địa danh hành Quảng Đức tồn tại trong vòng 20 năm (1802-1822). Đến năm 1822, dinh Quảng Đức được vua Minh Mạng đổi tên thành phủ Thừa Thiên. Từ năm 1831-1832, Vua Minh Mạng lần đầu tiên chia cả nước thành 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm 30 tỉnh và 01 phủ, Thừa Thiên Huế ngày nay là phủ Thừa Thiên.

-Tháng 11-1822 vua Minh Mạng đổi Phủ Thuận Hóa thành Phủ Thừa Thiên.

-Tháng 3-1890 năm Thành Thái  thứ 2 đổi phủ Thừa Thiên thành tỉnh Thừa Thiên.

-Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp chia cả nước thành 3 kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ), cơ bản giữ nguyên các tỉnh như trước và có thành lập thêm một số tỉnh ở cả 3 kỳ, Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc Trung Kỳ

-Giai đoạn từ 1945-1954, cả nước chi thành 3 bộ: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ gồm có 65 tỉnh (Bắc Bộ có 27 tỉnh, Trung Bộ có 18 tỉnh, Nam Bộ có 20 tỉnh), Thừa Thiên Huế thuộc Trung Bộ và địa giới cơ bản như hiện nay)

-Giai đoạn từ 1954-1975, sau hiệp định Giơ-ne-ver,...  theo sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa lúc này có 35 tỉnh và trong quá trình từ 1954-1975 có sự lập mới và bãi bỏ nên toàn miền Nam có 44 tỉnh, Thừa Thiên Huế là tỉnh thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý. Về mặt quân sự, năm 1961 thành lập các vùng chiến thuật, đến tháng 7/1970 đổi tên là Quân khu, tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị ngày nay thuộc Khu 11 chiến thuật.

-Sau khi thống nhất đất nước, năm 1976 cả nước có 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 35 tỉnh và 3 thành phố, tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay được gộp thành tỉnh Bình Trị Thiên. Năm 1989, tỉnh Bình Trị Thiên tách ra làm 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế như ngày nay.Như vậy, cùng với sự thăng trầm theo dòng chảy lịch sử dân tộc, tên gọi và địa giới hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử khác nhau và ổn định với tên gọi Thừa Thiên Huế và địa giới từ năm 1989 đến nay.

Theo Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Lịch sử

(Nhà Xuất bản Khoa học xã hội - năm 2005)

 

 

B-NHỮNG DẤU CHÂN NGƯỜI VIỆT TRÊN VÙNG ĐẤT THUẬN HÓA.

 

Theo chính sử thì vùng đất từ Hoành Sơn đến Hải Vân có dấu chân người Việt trong cuộc Nam chinh đầu tiên vào năm 982 của Lê Hoàn (980-1005)-Tiền Lê. Và trãi dài bao thời tao loạn, tranh giành, mà các mốc son lịch sử ghi dấu ấn sau đậm nhất là:

 

1-Thời kỳ Nhà Lý. (1010-1225)

Năm Thái Minh thứ IV(1075) vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đi thị sát vẽ lại bản đồ vùng Bố Chính-Địa lý- Ma Linh. Vua xuống chiếu chiêu mộ nhân dân phía Bắc vào ở và tổ chức bộ máy chính quyền các cấp. Theo sử liệu thì bà con thì bà con cùng một tộc Họ thường cùng đi với nhau vào lập, làng lập Họ. Tính đến nay khoảng trên dưới 850 năm

 

2-Thời kỳ Nhà Trần.  (1226-1400)

Tháng 6 năm Bính Ngọ(1306) năm Hưng Long thứ XV lễ cưới Công Chúa Huyền Trân được tổ chức, quà sính lễ của cuộc hôn nhân lịch sử đó là: Châu Ô và Châu Rí (vùng đất từ phía Bắc Quảng Trị đến huyện Duy Xuyên Quảng Nam). Và từ đây người Việt bắt đầu di dân vào để định cư, khẩn đất lập làng. Những thế hệ di dân đầu tiên vào chiếm lĩnh đất Thuận Hóa đều xuất phát từ đồng bằng sông Hồng và đặc biệt là vùng Thanh-Nghệ-Tỉnh (đây là vùng đất Việt có từ thời dựng nước). Tính đến nay khoảng trên 700 năm.

 

3-Thời kỳ Nhà Hồ. (1400-1407)

Đời Thuận Tông năm Quang Thái thứ II (1389) Nhà Hồ lên ngôi chia đất Chiêm Động và Cổ Lũy thành 5 châu, vẽ lại bản đồ làng xã, tiếp tục kêu gọi nhân dân phía Bắc vào lập làng ấp. Tính đến nay khoảng trên dưới 620 năm.

Cuộc kháng chiến chông giặc Minh của Trần Ngỗi, Đặng Dung, Đặng Tất…Thuận Hóa trở thành biên viễn cực Nam của Đại Việt là địa bàn của những người Việt bị cưỡng bức di dân hoặc những người có tội, về phương Nam theo chủ trương của Nhà Hồ. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim viết: “ Lại bắt những dân không có của và không có ruộng đem vợ con vào để khai khẩn đất những châu ấy, bởi vì khi vua Chiêm nhường đất Chiêm Động, Cổ Lũy, người Chiêm đều bỏ đất mà đi cả”.

 

4-Thời kỳ Nhà Lê. (1428-1527)

Đời vua Lê Thánh Tông năm Hồng Đức thứ I (1470) sau khi dẫn 26 vạn quân chinh phạt Chiêm Thành. Để bình định đất Thuận Hóa đã cắt cử quan đinh ở lại khai khẩn đất đai, lập làng mạc ổn định miền biên viễn phía Nam của Đại Việt để ngăn chặn Chiêm Thành làm phản.

Thời Nhà Lê vùng đất Ô Châu ác địa Thuận Hóa là địa bàn tiếp nhận các tội đồ “lưu viễn châu”, rồi “lưu cận châu” trong ngũ hình thời Lê có ba bậc: cận châu (Nghệ An), ngoại châu (Bố Chính-Q,Trạch) và viễn châu (Tân Bình-Thuận Hóa). Tính đến nay khoảng trên dưới 540 năm.

 

5- Thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh. (1558-1786)

Tháng 8 năm Kỷ Mùi (1559) vùng Thanh Hóa , Nghệ An nước lũ tràn ngập, đê điều đường sá bị vỡ trôi mất nhà cửa, ruộng vườn nhân dân lưu tán nhiều vào Nam. Hay năm Mậu Thân (1608) Thuận Hóa được mùa to, bấy giờ từ Nghệ An ra Bắc bị đại hạn, giá gạo đắt nhiều dân xiêu dạt chạy về phía Nam.

 

Nhận định tổng quát

                                       ₪₪₪₪₪₪

Qua các mốc son của lịch sử được nêu ở trên, về quá trình mỡ mang bờ cõi và các cuộc di dân về phương Nam, đã cho chúng ta nhận định một cách khách quan về sự hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư người Viêt trên vùng đất Thuận Hóa như sau:

“Ranh giới cực Nam cho sự phát triển của cộng đồng dân cư người Việt vùng châu thổ Bắc Bộ giửa Champa và Đại Việt là lấy Hoành Sơn làm cương giới. Về sau biên giới phương Nam của Đại Việt dần được mỡ rộng qua các sự kiện lịch sử 1069 trong chiến thắng của Lý Thường Kiệt, rồi 1306 sự kiện Công Chúa Huyền Trân, đặc biệt là cuộc Nam chinh của Nhà Hồ 1401-1402, và của vua Lê Thánh Tông  1471 vào tận Thăng Hoa tư Nghĩa.

Phải nói thêm là, điều kiện thuận lợi và khách quan thúc đẩy quá trình di cư mạnh và nhiều nhất là trong các thế kỷ XVI-XVII, trong khi vùng đất mới cực Nam Đại Việt mưa thuận gió hòa thì tình hình miền Bắc diễn biến ngược lại đó là vào những năm 1559 và 1608. Có thể chính sự Triều Nguyễn sau này tập trung vào điều kiện khách quan đó, xây dựng nhiều luận cứ để tán dương triều đại của mình, những luận cứ đó ít nhiều chấp nhận theo lý thuyết, tất cả nhằm thu hút nhân tâm dùng để khẳng định sức mạnh của mình.”

(Trần Đình Hàng, Cơ sở tiếp cận văn hóa làng Việt Miền Trung)

Tuy nhiên trên thực tế một số đông các  làng xã và các họ tộc tại Thừa Thiên Huế đã bị thất tán nhiều tài liệu, nên rất khó khăn trong việc xác định được nguồn gốc địa danh, cũng như thời điểm cụ thể của quá trình di cư. Cho nên hiện nay khá phổ biến là các nguồn tư liệu : tộc phả, gia phả, chúc văn nhiều dòng họ có thể khẳng định được nguồn gốc Thanh Hóa, Nghệ An và còn lại là xuất phát các tỉnh khác ở miền Bắc, còn thời điểm cụ thể chỉ chung chung là: “ Thủy Tổ ta tự Bắc kỳ Tiên Lũng Miêu Duệ theo Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế vào trấn thủ Thuận Hóa khai canh đất này…(1558)” mặc dù tên làng đó cũng như số đệ thế của các họ đã có trước thời kỳ Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558) vào trấn thủ đất Thuận Hóa.

Xin đơn cử một vài ví dụ: Làng Vu Lai (Hoài Lai) của huyện Đan Điền (nay là Quảng Điền) đã được Tiến Sĩ Dương Văn An ghi nhận từ thời Ông viết cuốn Ô Châu cận lục (1553), hay trong bản dịch tài liệu có từ năm Tân Tỵ (1461) ngày 10 tháng 8 của 14 Họ tộc đến làng Sơn Tùng Mỹ Thạnh phụng cúng đã có các họ của người Việt, (trong 14 Họ đến phụng cúng có Họ Văn ta) hay về họ Hồ, bản gia phả của họ được ghi như sau:

“ Ngài Thủy Tổ khai sáng nền móng thôn Đông Hồ là Ngài Hồ Kính Dương Tôn Thần, từ Bắc kỳ di cư vào khai canh thôn Đông Hồ ở xứ Hà Lạc, thụy là Khai Tiên, mất ngày 20 tháng 6, táng tại vùng truông rừng xứ Nhà Hồ(gia phả Họ Hồ làng Phong Lai , Trần Đại Vinh dịch), trong khi đó Họ Hồ được xếp vào hàng thứ 5 trong 7 Ngài tiền Thủy Tổ khai canh của vùng đất huyện Quảng Điền.

Tại làng Vân Thê-Thủy Thanh-Hương Thủy. Theo VÂN THÊ HƯƠNG SỬ viết năm 1995 như sau:

“-1/- Năm Thái Minh thứ 4 (1075) Vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đi thị sát vẽ lại bản đồ vùng Địa lý-Ma linh và Bố chính. Vua xuống chiếu chiêu mộ nhân dân phía Bắc vào ở và tổ chức lại bộ máy chính quyền. Theo sử liệu thì bà con cùng một tộc Họ đi với nhau vào lập Họ, lập láng”. Tính đến nay đã 935 năm (2010)

“-2/- Năm Hưng Long thứ 15 (1306) Vua Anh Tông đổi hai châu Ô-Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu, chọ người trong dân làng làm quan, cấp ruộng đất và mienx thuế 3 năm. Thông qua quan hệ hôn nhân đã tạo ra cuộc sống ngày càng hòa đồng và thân thiện giữa người Chăm và người Việt.” Tính đến nay đã qua trên 700 năm (2010)

“-3/- Năm Quang Thái thứ 2 (1389) Vua Thuận Tông. Họ Hồ lên ngôi chia đất Chiêm động và Cổ lũy thành 5 châu, vẽ lại bản đồ làng xã, tiếp tục kêu gọi nhân dân phía Bắc vào lập làng, ấp”. Tính đến nay đã 620 năm (2010)

“-4/- Năm Hồng Đức thứ 1 (1470). Vua Lê Thánh Tông, sau khi dẫn 26 vạn quân chinh phạt Chiêm Thành. Để bình định đất Thuận Hóa đã cắt cử quan đinh ở lại khai khẩn đất đai, lập làng mạc ổn định miền biên viễn phía Nam của Đại Việt để ngăn chặn Chiêm Thành làm phản”. Tính đến nay đã 540 năm (2010)

Trong tác phẩm: Tín ngưỡng dân gian Huế của Trần Đại Vinh cũng chú trọng vào các mốc son lịch sử ở trên, đã cung cấp cho chúng ta nhiều tư liệu danh mục những làng xã được thành lập sau đợt Nam chinh 1470 của vua Lê Thánh Tông.

Nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả như: Huỳnh Công Bá, Trần Đại Vinh, Lê Nguyên Lưu, Trần Đình Tối, Văn Đình Triền, Huỳnh Đình Kiết v.v…đã chỉ ra rằng: người Việt di cư đến vùng đất Thừa Thiên Huế hiện nay từ rất sớm, đặc biệt sự ra đời của hai Châu Thuận, Hóa thời Trần và quá trình phát triển cộng đồng làng xã, họ tộc ở Thừa Thiên Huế được phân thành các gia đoạn: Trần – Hồ, Lê – Mạc, Chúa Nguyễn – Tây Sơn và từ thời Nguyễn (Gia long) đến nay. Hay trong tập Thủy Thiên Bản (bản ghi buổi đầu dời chổ) của tác giả Bùi Trành người làng Câu Nhi, Hải Lăng, Quảng Trị viết năm Thuận Thiên thứ 2(1429) xác định sự có mặt của các họ tộc tại Thuận Hóa đã có từ thời kỳ nhà Trần-Lê.

Hay trong cuốn: Vu Lai-Lai Trung chí lược các tác giả Trần Đại Vinh, Nguyễn Tấn Phong, Nguyễn Xuân, Văn Nghị khảo cứu biên soạn năm 1991-1992 co ghi “ Hơn 500 năm trôi qua kể từ khi các Tiên Tổ Họ Văn và các Họ khác đặt chân lên xứ đất Cồn Dàng…..”, hoặc “ Vào khoảng giữa thế kỷ XV làng Hoài Lai được thành lập tại địa bàn phát khởi đầu tiên là xứ Cồn Dương……thuộc huyện Đan Điền, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa.”

Trong tập Nguyễn Trãi Dư Địa Chí viết như sau: “ Phủ Triệu Phong thời Lê là Châu Ô và Châu Lý của Chiêm Thành. Năm Hưng Long thứ 14 (1306) Trần Anh Tông lấy đất hai châu ấy đổi thành Châu Thuận và Châu Hóa. Thời Lê đặt làm phủ Triệu Phong thuộc Thuận Hóa, gồm 6 huyện Hải Lăng, Vũ Xương, Đan Điền, Kim Trà, Tư Vinh, Điện Bàn và hai châu Thuận Bình và Sa Bôi.

Ngày nay , Hải Lăng, Vũ Xương, Thuận Bình, Sa Bôi thuộc tỉnh Quảng Trị; Đan Điền, Kim Trà, Tư Vinh là đất Thừa Thiên, và Điện Bàn ở phía Bắc tỉnh Quảng Nam”.

Lại nói về các huyện Đan Điền, Kim Trà, Tư Vinh trong Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi (phần chú giải)  viết như sau:

  • “ Huyện Đan Điền thuộc Châu Lý của Chiên Thành. Thời thuộc Minh gọi là huyện Trà Kệ, thuộc Châu Hóa phủ Thuận Hóa. Thời Lê mới đổi tên là Đan Điền. Đầu thời Nguyễn đổi tên là Quảng Điền. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), cắt 2 tổng của Quảng Điền(cùng một tổng huyện Hương Trà) đặt làm huyện Phong Điền”.

Huyện Đan Điền thời Lê là gồm đất huyện Quảng Điền và một phần đất huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiền hiện nay.

“ Huyện Kim Trà thuộc đất Châu Lý của Chiêm Thành. Thời thuộc Minh gọi là các huyện Xạ Linh, Bồ Đài, Bồ Lãng thuộc Châu Hóa, phủ Thuận Hóa. Thời Lê đặt làm huyện Kim Trà thuộc phủ Triệu Phong. Đầu thời Nguyễn đổi tên là Huyện Hương Trà. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) cắt ba tổng cho ba huyện Hương Thủy, Phú Lộc, Phong Điền”.

Hiện nay là đất huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên ( và một phần của Hương Thủy, Phú Lộc, Phong Điền.

“ Huyện Tư Vinh vốn là thuộc đất của Châu Lý của Chiêm Thành. Thời Trần là các huyện Lợi Bồng, Tư Dung, Thế Vinh thuộc Châu Hóa, phủ Thuận Hóa. Thời Lê đặt làm huyện Tư Vinh thuộc phủ Triệu Phong. Đầu thời Nguyễn đổi tên là Huyện Phú Vinh (thường gọi là huyện Phú Vang). Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) cát 6 tổng đạt thêm hai huyện Hương Thủy và Phú Lộc .”

Huyện Tư Vinh thời Lê là đất các huyện Phú Vang, Hương Thủy và Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên hiện nay.

Như vậy theo quốc sử, mốc son thứ IV-Thời kỳ Nhà Lê. (1428-1527) là mốc thời gian ghi nhận sự hình thành của các Họ tộc người Việt nói chung và Tộc Văn nói riêng, tại vùng đất Thuận Hóa cách đây 540 năm.

Xin được nói thêm là các Tiên Tổ Tộc Văn theo phả liệu để lại có rất nhiều Ngài làm quan, giử nhiều chức vụ quan trọng trong triều nhà Lê. (Xin xem phần: Danh nhân Họ Văn qua các thời kỳ của lịch sử)

Sử là như vậy còn gia phả của Tộc Văn của chúng ta thì nói lên được điều gì?

Căn cứ vào một số tư liệu về Tộc Văn của chúng ta như đã trích dẫn ở phần trên. Hoặc số đệ thế của các gia phả, Tộc Văn chúng ta cho đến nay có từ 17 đến 21 và cứ tính bình quân mỗi đệ thế từ 27 đến 30 năm thì Tộc Văn chúng ta có mặt tại đất Thuận hóa cách đây từ 560-630 năm.

Từ các luận cứ của quốc sử và gia phả của các phái Tộc Văn trong Tỉnh, chúng ta có đủ cơ sở khẳng định: Tổ Tiên chúng ta đã cùng nhau vào lập làng, lập họ chí ít nhất là thời kỳ Hồng Đức năm thứ I (1470) tính cho đến nay là: 540 năm.

 

Văn Viết Thiện

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  • CHƯƠNG II:

 

A-NHỮNG DẤU CHÂN CỦA TỘC VĂN TRÊN VÙNG ĐẤT THUẬN HÓA.

 

THỚI TRẦN, HỒ, LÊ, MẠC (1306-1558)

 

Thừa Thiên Huế thời Lê sơ

“Sau khi đánh đuổi giặc Minh, Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã cử các trọng thần vào trấn thủ Thuận Hóa, tổ chức ổn định đời sống nhân dân, tăng cường di dân, khai hoang phục hóa, thành lập các làng xã mới. Tình hình Thuận Hóa cơ bản ổn định, nhưng vẫn bị sự quấy nhiễu của quân Chiêm Thành. Từ sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà (1434), quân Chiêm Thành nhiều lần tấn công châu Hóa, năm 1446 vua Lê Nhân Tông cử đại quân chủ động đánh Chiêm Thành nhằm giữ yên bờ cõi.

Trong thời kỳ này vẫn tiếp tục quá trình di dân từ phía Bắc vào châu Thuận Hóa, hàng loạt các làng mới được thành lập như: Đa Cảm, Vĩnh Cố (nay là Vĩnh An), Đàm Bổng (nay là Ưu Điềm), Phò Trạch, Đường Long (Chí Long), Chánh Lộ (Chánh Lộc), An Triền (Hòa Viện), Hương Triền (Thanh Hương), Vĩnh Áng (Vĩnh Xương), Thanh Cần, Triều Sơn, Địa Linh, La Khê, Bao Vinh, Đức Bưu, Dương Xuân, Hoài Lai, Phổ Lại, Vân Căn, Sơn Tùng, Hoa Lang, Trung Tuyền (Trung Đồng), Đại Lộc, Kế Môn, Thế Chí, Toản Vũ (Thành Công), Bình Trị (Vĩnh Trị), Thai Dương, Hòa Duân, Hà Cùng (An Dương), Cự Lại, Kế Chủng (Kế Sung), Đông Dương, Vinh Hoài, Duy Sơn, Tân Chu, Nghi Giang, Diêm Trường, Phụng Chính.

Năm Bính Tuất (1466) vua Lê Thánh Tông tổ chức cải cách hành chính đặt 13 đạo Thừa tuyên trong cả nước, trong đó có Thừa tuyên Thuận Hóa; đổi lộ thành phủ, trấn thành châu, các chức Chuyển vận thành Tri huyện, Tuần sát thành Huyện thừa, Xã quan thành Xã trưởng. Thừa tuyên Thuận Hóa được tổ chức thành phủ Tân Bình gồm 2 huyện, 2 châu và phủ Triệu Phong gồm 6 huyện, 2 châu. Phần đất Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc 3 huyện Kim Trà, Đan Điền và Tư Vinh nằm trong phủ Triệu Phong.

Năm 1469, quân Chiêm Thành lại khởi sự chiến dịch quấy phá Hóa Châu, Tháng 9/1470, vua Chiêm Thành là Bàn Trà Toàn chỉ huy 10 vạn quân và voi ngựa tiến đánh châu Hóa. Cuối năm đó vua Lê Thánh Tông ngự giá thân chinh đánh Chiêm Thành. Sau nhiều trận giao tranh, quân Chiêm tan vỡ, vua Lê Thánh Tông đã đưa quân đánh vào tận kinh đô Bồ Đàn của Chiêm Thành, bắt sống Trà Toàn đem theo về Đại Việt.

Chiến dịch bình định phương Nam của quân dân Đại Việt dưới quyền Tiết chế của vua Lê Thánh Tông đã chấm dứt mối đe dọa xâm lấn Hóa Châu của quân Chiêm Thành (1471). Phần đất Thừa Thiên Huế không còn là phên giậu, mà biên cương đã vào tận phía Nam Bình Định. Quan quân và nhân dân đã ra sức khôi phục và tái thiết Thuận Hóa. Hưởng ứng chủ trương di dân, một số quan quân Nam chinh trở về đã đem gia đình và bà con từ các vùng quê phía Bắc, đa số là Thanh Hóa, Nghệ An vào khai khẩn đất hoang và các vùng đất bị tàn phá, nhân dân lưu tán do chiến tranh, lập thành những làng ấp mới trên đất Thuận Hóa.

Theo danh mục trong Hồng Đức bản đồ soạn ngày 6/4 năm Hồng Đức 21 (1490), 3 huyện thuộc phần đất Thừa Thiên Huế ngày nay gồm có: Kim Trà 22 làng, 20 thôn, 3 nguồn, Đan Điền 60 làng, 14 thôn, 4 sách, 1 nguồn, Tư Vinh 69 làng, 4 sách, 1 thôn.

  • Ngày 16-11 năm Canh Dần (1470): vua Lê Thánh Tông thân chinh Chiêm Thành. Đại quân đã dừng lại ở Cửa Eo để luyện tập thủy chiến cùng với quân địa phương Thuận Hóa, đến ngày 1-3 năm Tân Mão (1471), hạ thành Đồ Bàn, vua Chiêm là Trà Toàn bị quân Thuận Hóa bắt sống. Chuyến bình định phương Nam của quân dân Đại Việt đã chấm dứt mối đe dọa xâm lấn Hóa Châu của Chiêm Thành, nhiều làng mới được lập ra ở Thuận Hóa.

Sau chiến thắng Đồ Bàn năm 1471 của quân dân Đại Việt, trong đó có sự đóng góp công sức, xương máu của quân dân Thuận Hóa, vùng đất này đã được hưởng thanh bình, ổn định liên tục trong vòng 50 năm.”

- “Tháng Mười năm Mậu Ngọ (1558): Nguyễn Hoàng - con thứ hai của Nguyễn Kim, được phong tước Đoan Quận công, vào trấn giữ Thuận Hóa và lập bản doanh tạidinh Ái Tử (QuảngTrị). Những người đồng hương ở Tống Sơn và nghĩa dũng xứ Thanh đều đi theo. "Chúa vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ xưng là chúa Tiên" (Đại Nam thực lục tiền biên). Đến tháng giêng năm Canh Ngọ (1570), chúa Tiên được giao trấn thủ cả hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam”.

 

Theo Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Lịch sử

(Nhà Xuất bản Khoa học xã hội - năm 2005)

 

 

Qua các tư liệu mà lịch sử hiện có, cùng các đệ thế có trong các gia phả của các Họ, Phái Văn tộc trong tỉnh Thừa Thiên-Huế, Họ Văn chúng ta có thể có mặt trong khung niên đại từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, di dân qua các cuộc chiến tranh với Chiêm Thành, nhà Minh,  các cuộc di dân lập ấp để trấn thủ vùng đất Châu Ô, Châu Lý thời nhà Lê, hoăc  nạn khủng hoảng kinh tế do thiên tai hạn hán vào tháng 8-1558 và năm Mậu thân 1608 của các vùng Thanh-Nghệ-Tỉnh. Điều này cũng dễ dàng nhận thấy là phả hệ các Họ phái của chúng ta hiện có từ 17 đến 21 đệ thế.

Công việc tìm ra thế thứ ngọn ngành của dòng tộc là một điều rất khó khăn, do các diễn biến của lịch sử như đã trình bày ở các phần trên.

 

                                       ₪₪₪₪₪₪

 

 

 

 

B-PHẢ KÝ CÁC HỌ, PHÁI VĂN TRONG TỈNH

 

I.-HUYỆN QUÃNG ĐIỀN

TÊN ĐẤT TÊN LÀNG QUA CÁC THỜI KỲ TRƯỚC ĐÂY

Bác Văn Đình Triền – Văn Viết Thiện

Thời kỳ Lê Sơ: (1428-1527)

“ Huyện Đan Điền thuộc Châu Lý của Chiên Thành. Thời thuộc Minh gọi là huyện Trà Kệ, thuộc Châu Hóa phủ Thuận Hóa. Thời Lê mới đổi tên là Đan Điền. Đầu thời Nguyễn đổi tên là Quảng Điền. Năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), cắt 2 tổng của Quảng Điền(cùng một tổng huyện Hương Trà) đặt làm huyện Phong Điền”.

Huyện Đan Điền thời Lê là gồm đất huyện Quảng Điền và một phần đất huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiền hiện nay.

( Theo Dư địa chí Nguyễn Trãi. NXB-KHXH năm 1969)

 

-LÀNG HOÀI LAI (VU LAI)

“Vào khoảng giữa thế kỷ 15. Làng Hoài Lai được thành lập tại địa bàn phát khởi đầu tiên là xứ Cồn Dương, tiếp đó là các xứ Ông Xương và Bàu Luận, gồm khoảng 200 mẫu ta. Bị ngăn cách nhau từ 3 đến 4-5 dặm trên vùng đất ruộng thuộc huyện Đan Điền, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa”.( Theo Vu Lai-Lai Trung chí lược của Trần Đại Vinh năm 1992).

“Sau khi đánh đuổi giặc Minh, Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã cử các trọng thần vào trấn thủ Thuận Hóa, tổ chức ổn định đời sống nhân dân, tăng cường di dân, khai hoang phục hóa, thành lập các làng xã mới. Tình hình Thuận Hóa cơ bản ổn định, nhưng vẫn bị sự quấy nhiễu của quân Chiêm Thành. Từ sau khi vua Lê Thái Tổ băng hà (1434), quân Chiêm Thành nhiều lần tấn công châu Hóa, năm 1446 vua Lê Nhân Tông cử đại quân chủ động đánh Chiêm Thành nhằm giữ yên bờ cõi.

Trong thời kỳ này vẫn tiếp tục quá trình di dân từ phía Bắc vào châu Thuận Hóa, hàng loạt các làng mới được thành lập như: Đa Cảm, Vĩnh Cố (nay là Vĩnh An), Đàm Bổng (nay là Ưu Điềm), Phò Trạch, Đường Long (Chí Long), Chánh Lộ (Chánh Lộc), An Triền (Hòa Viện), Hương Triền (Thanh Hương), Vĩnh Áng (Vĩnh Xương), Thanh Cần, Triều Sơn, Địa Linh, La Khê, Bao Vinh, Đức Bưu, Dương Xuân, Hoài Lai, Phổ Lại, Vân Căn, Sơn Tùng, Hoa Lang, Trung Tuyền (Trung Đồng), Đại Lộc, Kế Môn, Thế Chí, Toản Vũ (Thành Công), Bình Trị (Vĩnh Trị), Thai Dương, Hòa Duân, Hà Cùng (An Dương), Cự Lại, Kế Chủng (Kế Sung), Đông Dương, Vinh Hoài, Duy Sơn, Tân Chu, Nghi Giang, Diêm Trường, Phụng Chính’’.

Đến năm 1553 . Trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An đã được ghi vào danh mục các làng xã và tên làng đã đổi thành Vu Lai vào thời Chúa Nguyễn ( ?)

Theo Địa chí Thừa Thiên Huế - Phần Lịch sử (Nhà Xuất bản Khoa học xã hội - năm 2005)

 

THỜI KỲ ĐẦU TIÊN

Xã Vu Lai

 Thuộc Tổng Thanh Cần, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

 Theo bút tích và mốc đá biên giới Giáp Lai Trung ngày xưa còn để lại thì Ngài Thủy Tổ Họ Văn ta, cùng 6 Ngài Thủy Tổ của 6 họ lớn làng ta từ Bắc Thành đi theo Ông Nguyễn Hoàng bổ vào làm Tổng Trấn xứ Thuận Hóa (1) năm Mậu Ngọ 1558. Đã khai canh, thành lập xã Vu Lai thuộc Tổng Thanh Cần Huyện Đan Điền (tức Quảng Điền) Phủ Thừa Thiên. Đến niên hiệu Gia Long thứ 2 năm Quý Hợi 1803 đổi Phủ thành Dinh, đến niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 năm Nhâm Ngọ 1822 đổi thành Tỉnh cho đến nay.

Tám Ngài Thủy Tổ Khai canh là:

  1. Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Văn Quý Công húy Văn Nhân Thận, thụy Trung Cần Đại Lang, gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.
  2. Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Văn Quý Công húy Văn Nhân Bút, thụy Kiến Canh Tư Điền Đại Lang, gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.
  3. Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Phạm Quý Công húy Phạm Bá Lụa, Phạm Bá Lá, gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.
  4. Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Trần Quý Công húy Trần Trợ, gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.
  5. Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Hoàng Quý Công húy Hoàng Của, gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.
  6. Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Hồ Quý Công, húy Hồ Kinh Dương, gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.
  7. Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Lê Quý Công, húy Lê Đình Nhiêu, gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.
  8. Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Nguyễn Quý Công húy Nguyễn Phúc Làng, gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.

 

THỜI KỲ THỨ II

Xã Vu Lai

Phường Vu Lai Thượng.

Phường Vu Lai Hạ

 

 Thuộc Tổng Thanh Cần, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

 Sau khi thành lập xã Vu Lai một thời gian sinh nỡ đông đúc, một số người của ba họ là: Phạm, Lê, Nguyễn đi lên phía hữu ngạn sông Bồ khai khẩn thêm Phường Vu Lai Thượng, một số người đũ 7 họ khai canh đi ra bờ nam phá Tam Giang khai khẩn thêm Phường Vu Lai Hạ, cả hai phường đều thuộc xã Vu Lai. Khoảng cuối niên hiệu Minh Mệnh xẫy ra cuộc tranh tụng giành quyền quản lý, cả hai phường Thượng, Hạ đất rộng người đông được công nhận là Xã Vu Lai Thượng, Xã Vu Lai Hạ. Xã Vu Lai chính gốc còn lại ít người không còn đũ tiêu chuẩn một xã nữa, mà chỉ đủ tiêu chuẩn một Giáp, nên đổi tên là Giáp Lai Trung. Giáp Lai Trung, Xã Vu Lai Thượng, Xã Vu Lai Hạ vẫn thuộc Tổng Thanh Cần, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

 

THỜI KỲ THỨ III

Giáp Lai Trung

Xã Phong Lai

 Thuộc Tổng Thanh Cần, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

 Khoảng cuối niên hiệu Minh Mệnh hoặc đầu niên hiệu Thiệu Trị (1840-1841) xã Vu Lai Thượng đổi là xã Lai Thành, xã vu Lai Hạ đổi là xã Phong Lai. Giáp Lai Trung và xã Phong Lai vẫn thuộc Tổng Thanh Cần Huyện Quảng Điền, còn xã Vu Lai Thượng thuộc Huyện Phong Điền. Quảng Điền và Phong Điền đều thuộc Tỉnh Thừa Thiên.

 

          THỜI KỲ THỨ IV

Xã Phong Lai

Ấp Lai Hà

Thuộc Tổng Thanh Cần, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

Nguyên xã Phong Lai có 4 Giáp là: Đông Hồ -  Trung Kiều - Tây Hoàng và Lai Hà. Khoảng cuối niên hiệu Thiệu Trị, Giáp Lai Hà nổi lên tranh tụng với xã Phong Lai dành quyền tự trị, Giáp Lai Hà được công nhận là Ấp Lai Hà, tách khỏi Phong Lai về dân đinh, thuế khóa, phu sai tạp dịch, còn ruộng đất vẫn để chung Phong Lai-Lai Hà. Đến tháng 8 .1945 cách mạng thành công. Tổng Thanh Cần chia làm 2 Tổng. từ xã An Gia-Thạch Bình trở vào làm một Tổng vẫn giử tên là Tổng Thanh Cần. Từ các thôn An Lạc-An Cư-Mỹ Thạnh-Mỹ Lập-Cổ Tháp-Đức Nhuận-Hà Lạc-Sơn Công-xã Phong Lai-ấp Lai Hà-thôn Phú Ân thành một Tổng lấy tên là Tổng Phú Lạc. Cả hai Tổng đều thuộc Huyện Quảng Điền Tỉnh Thừa Thiên.

 

THỜI KỲ THỨ V

Thôn Phong Lai

Ấp Lai Hà

Thôn Phú Ân

Thuộc Xã Quảng Giang, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

Đầu năm 1947 do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nước của các đơn vị kháng chiến hành chính ở các đơn vị cơ sở phải được lớn hơn và phải kịp thời chỉ đạo của cấp huyện nên bỏ cấp Tổng, đồng thời ghép xã Phong Lai, Lai Hà, Phú Ân thành một xã láy tên là Xã Quảng Giang trực thuộc Huyện Quảng Điền. Xã Phong Lai từ đó thành Thôn Phong Lai.

 

THỜI KỲ THỨ VI

Thôn Phong Lai

Ấp Lai Hà

Thôn Hà Lạc

Thôn Sơn Công

Thôn Đức Nhuận

Thôn Cổ Tháp.

Thuộc Xã Quảng Thái, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

Đầu năm 1950 do cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nước trưởng thành các đơn vị kháng chiến hành chính cấp cơ sở phải được lớn hơn nữa, nên tách thôn Phú Ân trở lại với xã Phú Lễ, chia đôi xã Quảng Tín, các thôn Thủy Lập-Mỹ Thạnh-An Cư-An Lạc nhập với xã Quảng Sỹ thành xã Quảng Hưng. Các thôn Cổ Tháp-Đức Nhuận-Sơn Công-Hà Lạc nhập vào xã Quảng Giang thành xã Quảng Thái thuộc Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

 

THỜI KỲ THỨ VII

Thôn Phong Lai

Ấp Lai Hà

Thôn Hà Lạc

Thôn Sơn Công

Thôn Đức Nhuận

Thôn Cổ Tháp.

Thôn Thủy Lập

Thôn Mỹ Thạnh

Thôn An Cư

Thôn An Lạc

Thuộc Xã Quảng Lợi, Huyện Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên. Đầu năm 1976 đổi thành Huyện Hương Điền.

Từ đầu năm 1956 Chính Phủ Cọng Hòa Miền Nam cắt tất cả các thôn, ấp trên của Huyện Quảng Điền ở ven bờ Nam phá Tam Giang lấy tên một xã lấy tên là xã Quảng Lợi. Đến tháng 5-1976 sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, do yêu cầu xây dựng kinh té và bảo vệ Tổ quốc đơn vị Huyện và đơn vị Tỉnh phải được lớn hơn nên nhập 2 huyện Phong Điền và Quảng Điền đồng thời cắt một số thôn, xã của Huyên Hương Trà làm thành một huyện gọi là Huyện Hương Điền. Đồng thời cũng sáp nhập 3 Tỉnh: Quảng Bình-Quảng Trị-Thừa Thiên thành Tỉnh Bình Trị Thiên.

 

THỜI KỲ THỨ VIII

Ấp Lai Hà

Thôn Phong Lai

Thuộc Xã Quảng Thái, Huyện Hương Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

Vì địa thế của xã Quảng Lợi chiều ngang quá hẹp mà chiều dài quá xa không phù hợp với thời kỳ đầu phục hồi và xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng, cũng không thuận tiện cho việc nhân dân trực tiếp với chính quyền và các đoàn thể cách mạng nên tháng 7-1983 chia xã Quảng Lợi thành hai xã. Từ thôn Hà Lạc-Sơn Công xuống đến thôn An Lạc làm một xã vẫn giử tên là xã Quảng Lợi, ấp Lai hà và thôn Phong Lai lấy tên là xã Quảng Thái. Thuộc Huyện Hương Điền, Tỉnh Thừa Thiên.

Xã Phong Lai sau khi tách riêng Giáp Lai Hà trở thành một Ấp riêng, thì còn lại ba Giáp đổi là 3 công Thôn (xóm chung) trong 3 công Thôn có 7   thôn (xóm riêng) là Đông Cao-Đông Hồ-Nam Giảng-Trằm Ngang-Thủy Nịu-Tây Hoàng-Gia Quảng.

Khi đã thành lập xã lớn là xã Quảng Giang thì xã Phong Lai đương nhiên phải thành một thôn của xã Quảng Giang. Nhưng Phong Lai ngày xưa là một xã lớn đất rộng người đông dân cư ở rải rác khắp nơi lại mổi nơi dân cư lại đặt thêm một xóm nhỏ nữa như: xóm Trằm Vịnh, xóm Cửa Rào, xóm Tràng Bướm v.v…không phù hợp với điều kiện một thôn, cho nên trong sinh hoạt củng như trong các văn bản giấy tờ giao dịch đều dùng tên các công thôn và thôn đẻ sát thực tế và dễ hiểu bết hơn. Từ đố chữ Phong Lai lu mờ dần đến nay chỉ còn trong danh tư thuốc lá Phong Lai.

Do đó mà ghi chép lại quá trình thay đổi để đời sau thấy rõ: PHONG LAI-LAI TRUNG-LAI HÀ cùng một gốc tích có cội nguồn và cũng giải thích đầu bản phả đề : HỌ VĂN PHONG LAI-LAI HÀ-LAI TRUNG.

                                       ₪₪₪₪₪₪

(1) xin giải thích thêm, theo tác giả: Vào tháng 10 năm 1558 Nguyễn Hoàng được phong tước Đoan Quận Công vào trấn giử đất Thuận Hóa và lập bản doanh tại Ái Tử Quảng Trị thì Thủy Tổ họ Văn Ta cùng vào.(BCH-Văn Tộc)

                                     族之有譜猶國之有史。蓋史以記一國之紀綱。

                  譜以記一族之世系精粹命脉。於是在族先世積德累仁其來也遠矣。

                              生千載之下。食思樹飲河思源。子子孫孫勿世引之。

謹序

Dịch âm:

Tự

Tộc chi hữu phổ do quốc chi hữu sử. cái sử dĩ ký nhất quốc chi kỷ cương.

Phổ dĩ ký nhất tộc chi thế hệ tinh thần mạng mạch. Ư thị tại ngã tộc tiên thế tích đức lụy nhân kỳ lai dã viễn hỹ. Sinh thiên tải chi hạ. Thực quả tư thọ ẩm hà tư nguyên. Tử tử tôn tôn vật thế dẫn chi.

Cẩn tự

Dịch nghĩa

Tựa

Họ có phả cũng như nước có sử. Sử để ghi chép dường mối của một nước. Phả để ghi chép thế hệ mạch lạc tinh túy của một họ. Như vậy họ ta đời trước đã tích đức chứa nhân để lại cho đời sau sung sướng. Sinh ở ngàn đời về sau ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn. Con con cháu cháu chớ quên diều ấy.

Nay tựa

₪₪₪₪₪₪

 

LỜI NGƯỜI CHẤP BÚT PHỤNG SAO

                                   (trích bản gia phả do Bác Văn Đình Triền viết)

 

Cây có nhiều cành nhánh cùng chung một gốc, nước có nhiều dòng thác cùng chung một nguồn, người có nhiều chi phái cùng chung một Tổ Tông.

Nước có sử ghi chép lại sự hưng thịnh suy vong cùng công lao và tội trạng trong công cuộc dựng nước và giử nước đời này nối tiếp đời kia. Người, mổi dòng họ củng có Phả ghi chép thế hệ trước sau, đích thứ, lớn nhỏ, sinh tử, giá thú, giống nòi nguồn gốc cùng công lao sự nghiệp đói với Tổ quốc, quê hương cũng lưu truyền mãi về sau. Đó cũng biểu thị uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người vun gốc, cũng là đạo hiếu xưa nay.

Đối với Họ ta, Tổ quốc quê hương trãi qua các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm cứu nước rất khốc liệt kéo dài gần nữa thế kỷ (2), các bản gia phả cũ phải sưu tầm kiểm tra lại, đồng thời ghi chép thêm vào là điều cần thiết, Hơn nữa qua từng thời đại mội việc đều đi theo giòng lịch sử, các bản gia Phả trước đây đều ghi chép bằng chữ Hán và chữ Nôm, ngay nay phải sao chép lại bằng chữ quốc ngữ để lưu tích mai sau.

Vâng lệnh Họ chấp bút phụng sao Gia Phả Họ và các Phái xuống đến các Ngài Tiên Tổ đứng đầu mổi Chi hoặc mổi Hệ vào một bản Phả Họ để tiện lợi cho việc phụng tự và giử gìn và cũng thuận lợi cho con cháu hiểu biết.

Song xem các bản gia Phả của Họ, Phái, Chi, Hệ từ trước để lại, bản này bản khác có chổ không được trùng lặp, không có chú thích, khó khăn cho việc sao chép hiện nay, cho nên phải sưu tầm thêm một số gia Phả họ Văn gần xa, cũng mong tìm hiểu thêm những bút tích, những di tích và khẩu truyền, xem có những gì trùng hợp hoặc liên quan đến Họ Văn ta để cước chú thêm cho rõ hơn, cũng mong ngày sau con cháu xem vào để bớt phân vân.

Nhưng những nơi đã đến, các bản gia Phả cũ ghi chép cách đây hàng trăm năm không nơi nào còn, hạn hữu có những bản lâu hơn cũng chỉ năm bảy mươi năm, còn đa số ghi chép cách đây vài mươi năm trở lại, đều thiếu trước hụt sau cũng mập mờ khó hiểu. Truy tầm địa bạ làng ta cũng như các làng có Họ Văn để biết thêm về thời gian niên đại, cũng đều bị thiêu đốt, hoặc bị chôn vùi thối nát trong chiến tranh. Các chứng tích về xây dựng đình, chùa, miếu mão, hoặc đúc chuông, dựng bia, mốc đá từ ngày xưa cũng rất hiếm hoi.

Tuy chưa tìm ra những điều cốt yếu, nhưng cũng có bổ ích ít nhiều, cho nên những nơi đã đến, những bản gia phả đã xem, xin ghi lại những nét khái quát để tiện tham khảo.

(2) xin góp ý thêm: Dân tộc ta đã trãi qua các cuộc chống ngoại xâm hơn mười thế kỷ, nữa thế kỷ của tác giả chỉ nói ở trong giai đoạn chống Đế quốc phương Tây.(BCH-Văn Tộc)

 

 

HỌ VĂN LÀNG LAI TRUNG

 

A.-LỊCH SỬ THÀNH LẬP LÀNG LAI TRUNG

                                                                                         Bác Văn Đình Triền

Ngày xưa là xã Vu Lai, nay là giáp Lai Trung gồm có ba Phe; Phe Nhất và Phe Ba thuộc xã Quảng Vinh, Phe Nhì tách ra thành làng Phù Lai thuộc xã Quảng Thọ, đều thuộc huyện Hương Điền, tỉnh Bình Trị Thiên, cả Ba Phe đều có con chái Họ Văn cư trú, nhà thờ Họ tại Phe Nhất, Họ có bản gia phả có cước chú sao tại Họ Văn Phong Lai năm Bính Thìn 1976, con cháu Họ có đũ 5 Phái, Phái nhất con cháu đông nhất và có nhà thờ Phái, còn các Phái chỉ phụng tự tại các nhà Trưởng Phái. Phái Ba con cháu cũng đông thứ nhì có bản Phái Phả sao lại cũng cước chú sao lại tại Phái Ba Phong Lai v.v…

Có khẩu truyền là ngày xưa 8 Ngài Thủy Tổ (1) của 7 Họ khai canh lập làng Phong Lai cũng là 8 Ngài Thủy Tổ khai canh lập làng Lai Trung. Vì ở đây người đông thiếu ruộng đất, một số lên làng trên lập làng Vu Lai Thượng, một số ra miền ngoài lập làng Vu Lai Hạ nay là Phong Lai-Lai Hà, cả hai nơi đều đông đân và giàu có đem nhiều tiền bạc lo lót cho quan trên nên dành được chữ Xã (tức làng). Làng Lai Trung vì nghèo và cô thế nên hạ xuống chữ Giáp. Từ đó Đình, Chùa, nhà thờ Họ, mộ Tổ đều đưa về Phong Lai, ở đây không còn mộ Tổ nữa nhưng cứ lấy ngày kỵ Bà Thủy Tổ là 17 tháng 2 (âm lịch) hàng năm làm ngày kỵ Tổ đồng thời cũng là ngày tảo mộ hàng năm của Họ Lai Trung, xưa nay vẫn giử nguyên như vậy. Lai Trung có đóng ruộng khai canh cho cả 2 xã Vu Lai Thượng và Vu Lai Hạ.

 

VU LAI-LAI TRUNG CHÍ LƯỢC

(Trích sao : Vu Lai-Lai Trung chí lược của nhiều tác giả do GV-ĐHSP-HUẾ Trần Đại Vinh chủ biên)

 

I- Thời gian thành lập

“Vào khoảng giửa thế kỷ XV, làng Hoài Lai được thành lập tại địa bàn khởi đầu là xứ Cồn Dương, tiếp đó là xứ Ông Xương và Bàu Luân, gồm khoảng 200 mẫu ta điền thổ, bị ngăn cách nhau từ 3 đến 5 dặm trên vùng đất đồng ruộng thuộc huyện Đan Điền, phủ Triệu Phong xứ Thuận Hóa.

Tên làng được ghi vào được ghi vào danh mục làng xã xứ Thuận Hóa, trong cuốn sách khảo địa dư là Ô Châu Cận Lục gồm nhiều người viết (do Dương Văn An, Tiến sĩ đời Mạc hoàn tất việc sửa chửa và nhuận sắc vào năm 1553) trước khi Chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa 05 năm.

Tên cũ Hoài Lai, làng đã được chuyển đổi ra Vu Lai do sự kiêng tên húy dưới thời Nguyễn – Xét tên các Chúa Nguyễn không có ai tên nào trùng tên với chữ Hoài. Điều đó cho phép suy luận rằng: chữ Hoài có thể là tên của một bà vợ của Chúa Nguyễn, nhưng không thể xác định là vợ của Chúa nào, vì cho đến tác phẩm: “ Tiên Nguyễn toát yếu phổ tiền biên” – một bộ ngọc phổ đời Chúa Nguyễn do quan phụ chánh thân thần Tôn Thất Hân biên soạn dưới triều Bảo Đại, vẫn không ghi được tên một số bà vợ chính thức của các Chúa Nguyễn. Chỉ biết rằng việc kiêng húy chữ Hoài tương đối phổ biến. Làng Mậu Tài huyện Phú Vang chính tên là Hoài Tài đã được đổi ra trong trường hợp tương tự.

Điều ghi chép trong Ô Châu Cận Lục cho ta thấy làng Vu Lai tức là Hoài Lai đã được thàng lập trước thời Chúa Nguyễn Hoàng vào làm Trấn Thủ xứ Thuận Hóa, tức là trước năm Mậu Ngọ 1558.                 (BBT-HĐVăn Tộc xin nhấn mạnh)

Nhưng việc thành lập vào năm cụ thể nào thì ngày nay ta không còn có một tài liệu nào xác định rõ. Do đó, chỉ có thể căn cứ vào suy luận hợp lý để xcs định thời điểm thành lập làng.

Trước hết, địa bàn huyện Quảng Điền ngày nay là huyện Đan Điền ngày xưa, là một địa bàn trọng yếu về mặt chiến lược của Hóa Châu. Năm 1307 chỉ 01 năm sau khi tiếp nhận sính lễ gồm hai châu Ô và Rí từ đám cưới của Huyền Trân-Chế Mân, vua Trần Anh Tông đã sai quan Hành Khiển đoàn Nhữ Hoài vào sắp đặt, tổ chức cai trị phòng thủ. Ít lâu sau thành Hóa Châu được xâp đắp lại trên nền thành của quân Chiêm mà vị trí ngày nay là làng Thành Trung xã Quảng Thành huyện Quảng Điền. Đó là một trung tâm hành chính và quân sự đầu não của Hóa Châu dưới các thời Trần-Hồ-Lê-Mạc.

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

  • Các Vị Thủy Tổ và Khai Canh:

Truyền thuyết về khai canh lập ấp của các làng kể rằng: Có 7 Ngài khai canh của 7 Họ chính yếu xếp theo thứ tự là: Văn, Phạm, Trần, Hoàng, Hồ, Lê, Nguyễn đã thành lập nên làng xã. Xét gia phả của các Họ thì húy hiệu của các Ngài như sau:

- Thủy Tổ của Họ Văn là Ngài Văn Nhơn Thận đứng đầu 7 họ, tước phong là: Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.

               顯皇始祖老前七族 首文仁讳慎谥忠勤大郎着封翊保中興靈扶加贈諯肅尊神

- Thủy Tổ của Phái Nhất Họ Văn là Ngài Văn Nhơn Bút được ghi là Kiến Canh Tư Điền, tước phong là: Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.

文仁筆大郎建耕司田着封翊保中興靈扶加贈諯肅尊神

- Thủy Tổ của Họ Phạm là Ngài Phạm Bá Lụa, là Khai canh điền thổ, tước phong là: Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.

- Thủy Tổ của Họ Trần là Ngài Trần Trợ khai canh điền thổ, tước phong là: Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần gia tặng Đoan Túc Tôn Thần.

- Thủy Tổ của Họ Hoàng là Ngài Hoàng Của khai khẩn xứ Gia Quảng thuộc Giáp Tây Hoàng, phong tặng như trên.

- Thủy Tổ của Họ Hồ là Ngài Hồ Kinh Dương khai canh xứ Hà Lạc thuộc Giáp Đông Hồ, phong tặng như trên.

- Thủy Tổ của Họ Nguyễn là Ngài Nguyễn Phúc Lảng khai canh điền địa và khai khẩn Trúc Đăng ở Hà Bạc phường, phong tặng như trên.

…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….”

II.-Sự Nghiệp

           a/- Nguồn gốc:

(Chưa sưu tra được nguồn gốc từ phương Bắc tại tỉnh nào?)

           b/- Dân số:

Cho đến nay họ Văn tại làng Lai Trung đã trở thành một đại tộc trong làng, có từ 20-21 đệ thế, nếu tính cứ 25-30 năm cho mổi đệ thế có thể khoảng niên đại của sự hình thành Họ Văn Lai Trung vào các năm 1440-1500.

Hiện nay Họ Văn Lai Trung đang có 4 thế hệ cùng nhau phụng sự Tôn Tộc.

Theo thống kê đến tháng 12 năm 2010. Tổng số con cháu trong Tộc Văn Viết có:trên 600 người cả nam lẫn nữ. Trong đó:

III.- Địa bàn dân cư:

Đa số con dân sinh sống rải rác trong xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh TT-Huế.

 

1/- Sự phân tán dòng tộc

 

(Xin xem phần: “TÊN ĐẤT TÊN LÀNG QUA CÁC THỜI KỲ” do Bác Văn Đình Triền biên soạn ở phần đầu)

 

HỌ VĂN LÀNG SƠN TÙNG-QUẢNG ĐIỀN

                                                                                    Văn Đình Triền

  Làng Sơn Tùng có hai Giáp: Giáp Thượng và Giáp Hạ thuộc xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, cả hai Giáp đều có con chái Họ Văn cư trú, có một số ra cư trú tại đầm Mỹ Thạnh xã Quảng Lợi, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên. Trong thời kỳ phong kiến có một người trốn bắt lính vào ở Sông Cầu (?) nay sinh con cháu cũng đông, có di chúc Họ ở gần chợ Nan, con chái có về tìm.

Nhà thờ Họ ở Giáp Thượng, có gia phả của Họ. Đầu tiên có bốn Ngài cùng một lúc đến lập nghiệp ở đây là: Văn Hữu Diễn, Văn Hữu Miên, Văn Hữu Dung và Văn Ngọc Châu. Bốn người là cha con hay anh em ruột hay anh em gần xa thế nào thì không rõ, nhưng Ngài Văn Hữu Diễn là Thủy Tổ có sắc phong khai canh mà Họ vẫn thờ bốn Ngài như nhau.

Họ có bốn Phái, nghe khẩu truyền lại là mổi Phái là con của mổi Ngài nói trên, chứ không có Phái nào là con của Ngài nào, cũng không có tên tuổi của các Ngài đứng đầu phái, nên Phái nào cũng phụng tự cả bốn Ngài, bốn Ngài trên và bốn Ngài đầu Phái đều không có Bà. Khi đến đây có mang theo bảy hài cốt cùng táng một vùng bảy phong mộ cũng không rõ tên tuổi và thế hệ như thế nào, cũng không rõ thời gian và hoàn cảnh và ở đâu đến.

 

                    Ghi về Họ Văn Làng Sơn Tùng-Mỹ Thạnh-Thượng An

                              Huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế

---oOo---

  (Trích Sơn Tùng Địa Phương Ký do Ông Văn Hữu Tuất trích trong Trường Ca Ký sự)

 

“ Nhơn sinh hồ Tổ”

“Hiếu Thuận Hoàn Sinh Hiếu Thuận Tử”

“Ngổ Nghịch Hoàn Sinh Ngổ Nghịch Di”

---oOo---

Lời di huấn từ ngàn xưa thường dạy bảo, dể ai sống mãi trăm năm, trường sinh bất tử, nên hướng về cội nguồn tìm hiểu thương yêu huyết thống lưu truyền hậu duệ là sự thiêng liêng đầy ý nghĩa.

Từ phía Bắc Tổ Tiên Họ Văn chúng ta cũng như nhiều giòng Họ khác về miền biên địa Ô-Rí Thuận Quảng, áo dày cơm nặng bao kham khổ vì thiên tai địch họa vẫn cố lưu lại cho hậu duệ hôm nay bao sự tích, quê hương nhiều lần biến đổi cha ông vẫn cố bảo tồn tu tạo: Mộ Tổ, nhà Thờ, Gia phả, Điền thổ, Hương hỏa v.v….

Cũng như bao giòng Họ khác, sự nhầm lẫn về Hệ, Phái, thất lạc không biết giòng nào lớn hơn giòng nào, ai bậc trên, trước bởi nhiều lý do: có khi con út lại ít tuổi hơn cháu đích tôn, và nhất là thieus tìm hiểu để tu tạo nên xẩy ra thất truyền, xẩy ra sai lạc trong xưng hô thống thuộc.

Riêng Họ Văn chúng ta như nói ở phần phía  Bắc (xin xem lại Phần Thứ Nhất) sự thất truyền thất lạc đã có. Tại Sơn Tùng-Mỹ Thạnh tuy Gia phả cũng khá đầy đũ nhưng phần thiếu sót cũng rất nhiều

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Trong hiện tại Anh em họ Văn tại Sơn Tùng-Mỹ Thạnh sinh hạ khá đông đúc, lại một lần nữa phân tán ra khắp nơi và định cư đây đó, nghĩ như Ông Bà xa xưa có khắc khổ trong sinh hoạt vẫn có sự tích lưu truyền, nền cùng tội Lược Ký Gia Phả này mong rằng giòng Họ ta có sử tích ở miền quê hương Sơn Tùng-Mỹ Thạnh, dù có xa cách nghìn trùng, dù có dĩ hạ đến bao đời vẫn nhớ về gốc Tổ.

 

MỘ TỔ

                                                                   

Giòng Họ Văn Sơn Tùng-Mỹ Thạnh

Mộ táng tại Rú thuộc làng Phổ Lại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, cách thành phố Huế khoảng 27 cây số về hướng Bắc, nơi bạch sa có đường kính nấm mộ cát trên 100 mét, theo truyền thuyết thì hài cốt của Tổ được mang từ Bắc vào ngày đến Sơn Tùng xây làng dựng xóm, ngoài ngôi mộ Tổ chính, còn các mộ của các Ngài đầu Chồi, đầu Nhánh cũng được an táng tại rú này, thường năm vào tháng ba âm lịch, hoặc ngày rằm tháng chạp, có viếng chạp của con cháu nhà Họ Văn Sơn Tùng-Mỹ Thạnh.

NHÀ THỜ

       Nhà thờ Họ Văn Sơn Tùng-Mỹ Thạnh-Thượng An (BBT ghi thêm Thượng An) tọa lạc tại xóm Chùa Sơn Tùng xã Quảng Vinh huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên-Huế cách thành phố Huế 25 Km về phía Bắc.

Được xây cất trên một đám đất nhìn ra đồng “Nương Tộp”. Một đám ruộng của nhánh Họ Văn nổi cao hơn các đám ruộng khác trước mặt nhà thờ, theo truyền thuyết địa lý nói đây là cái Ấn, mòm Trần Trụ cây cối xanh rì làm bình phong. Hiện nay phong cảnh đã thay đổi khá nhiều.

Nhà thờ được xây cất từ đời Lê Cảnh Hưng, còn dấu tích bộ sườn làm bằng gỗ (Giàn trò) ba gian hiện nay vẫn còn không bị cháy, những năm chiến tranh trong Tiêu Khổ Kháng Chiến vách bị phá, ngói bị dỡ ba căn hai chái. Năm 1956 sau hiệp định Genève (Bính Thân) đại trùng tu, cất nền mới khang trang đẹp đẽ, bộ sườn nhà cũ vẫn giữ con cháu cả Sơn Tùng-Mỹ Thạnh đóng góp công sức, đấu giá đất ruộng hương hỏa lấy hoa lợi đem vào ngân sách tu tạo,

Trong chiến tranh tàn phá của Mỹ nhà thờ bị hư hỏng nặng nề….(Chưa ghi)

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

Ngoài nhà Thờ chính còn có các nhà thờ Nhánh, Chồi như Mỹ Thạnh, Thượng An song mọi việc kỵ chạp đều về tề tựu tại làng trong – Sơn Tùng.

Cho đến nay tổng số con cháu của Tộc Văn Hữu tại làng Sơn Tùng Quảng Điền có: 855 nhân khẩu

 

BẢN SAO VĂN SỚ PHỤNG CÚNG TẠI LÀNG SƠN TÙNG-MỸ THẠNH

                                                          ebaõbaf

                                                             TRÍCH SAO Y

( Theo bản dịch tài liệu có từ năm Tân Tỵ (1461) ngày 10 tháng 8 của 14 giòng họ đến Sơn Tùng Mỹ Thạnh phụng cúng. Trích riêng tên của giòng Họ Văn ta đã có từ trước thời đó)

                                  “ Tiền Bổn Thổ Khai Canh 

                                   Hậu Bổn Thổ Khai Khẩn”

Phục Vỵ: Thượng Cao Cao Tổ Danh Nhạn Môn Quận

                           Văn Hữu Diễn Đại Lang.

Cao Cao Tổ Văn Cầm Đại Lang.

Tằng Tổ Văn Sỹ Phòng Nhất Lang.

Cố Tổ Văn Sỹ Phiến Nhất Lang

Hiển Tổ Văn Quyến Nhất Lang

-Văn Phú Nhất Lang

-Văn Phì Nhất Lang

-Văn Lư Nhất Lang

-Văn Tư Nhất Lang

-Văn Tất Dũng Tam Lang

-Văn Tất Chí Nhất Lang

-Văn Lô Nhất Lang

-Văn Đo Nhất Lang

-Văn Tất Đắc Nhất Lang

-Văn Hữu Đức Nhất Lang

-Văn Ngọc Châu Đại Lang

-Văn Trọng Nghĩa Đại Lang

-Văn Hữu Độ Nhị Lang

-Văn Hữu Vy Nhất Lang

-Văn Hữu Hạo Nhất Lang

-Văn Khả Nãi Nhất Lang

-Văn Hữu Long Nhất Lang

- Văn Ích Lợi Nhất Lang

-Văn Hữu Sức Nhất Lang

-Văn Hữu Hiếu Nhất Lang

 

  • Chí Nhất Thuyền Thứ Đội Trưởng Đốc Suất Tô Sơn Bá : Văn Quý Công.
  • Tòng Quân Chí Nhất Thuyền kiên Cai Khố Thủ Tào Vu Như Đức Bá : Văn Quý Công.
  • Tân Định Thuyền Thứ Đội Trưởng Đốc Suất kiêm Cai Tri Khương Lộ Tử : Văn Quý Công.
  • An Nhất Thuyền Thứ Đội Trưởng Đốc Suất kiêm Cai Khố Thuần Đức Bá : Văn Quý Công.
  • Tòng Quân Chí Nhất Thuyền Thứ Đội Trưởng Nhung Càn Sơn Bá : Văn Quý Công.
  • Tòng Quân Chí Nhất Thuyền Thứ Đội Trưởng Suất Dương Sơn Bá : Văn Quý Công.

-Văn Hữu Nạp Nhất Lang

-Văn Hữu Nhữ Nhất Lang

-Văn Ích Thiện Nhất Lang

-Văn Hữu Nghĩa Nhất Lang

-Văn Xung Hoa Nhất Lang

-Văn Hữu Giao Nhất Lang

-Văn Hữu Tài Nhất Lang

-Văn Hữu Võ Nhị Lang

-Văn Hữu Công Tam Lang

-Văn Hữu Kiều Nhị Lang

-Văn Hữu Lực Tứ Lang

-Văn Hữu Danh Tứ Lang

-Văn Hữu Sái Nhất Lang

-Văn Hữu An Nhất Lang

-Văn Hữu Lộc Nhị Lang

-Văn Hữu Điều Nhất Lang

-Văn Hữu Cốc

-Văn Ngọc Châu Nhất Lang

-Tòng Quân Bá Hiệp Thuyền  Văn Hữu Ái

-Văn Nhất Thích Nhất Lang

-Văn Hữu Chỉ Nhị Lang

-Văn Hữu Bình Nhị Lang

-Văn Hữu Quảng

-Văn Hữu An

-Văn Hữu Trường Nhất Lang

-Văn Hữu Toái Nhị Lang

-Văn Hữu Lôn Quý Lang

-Văn Hữu Luận

-Văn Hữu Ý Nhị Lang

-Văn Hữu Nỵ Nhất Lang

-Văn Hữu Diệp Nhất Lang

-Văn Hữu Mẫn Nhị Lang

-Văn Hữu Mỵ Tam Lang

-Văn Hữu Suất Tứ Lang

-Văn Hữu Lãng

-Văn Hữu Bố Nhất Lang

-Văn Hữu Tốt

-Văn Hữu Hoàng

-Văn Hữu Dã Nhất Lang

-Văn Hữu Khoa

-Văn Hữu Hứa Nhị Lang

-Văn Hữu Quế

-Văn Hữu La

-Văn Hữu Kiềm

-Văn Hữu Thâm

-Văn Hữu Toái

-Văn Hữu Lẫm

-Văn Hữu Cai

-Văn Hữu Nội

-Văn Hữu Đàn

-Văn Hữu Lữ

-Văn Hữu Bi

-Văn Hữu Phán

-Tòng Quân Bá Hiệp Thuyền  Văn Hữu Yêu

-Văn Hữu Ty

-Văn Tất Giai Nhất Lang

-Văn Hữu Điểm

-Văn Hữu Thắng Nhị Lang

-Văn Phước Thành

-Văn Hữu Ngôn Nhị Lang

-Văn Hữu Mỹ

-Văn Phước Điền Nhị Lang

-Văn Hữu Chiêm Bằng

-Văn Hữu Quý

-Văn Hữu Phòng Nhị Lang

-Văn Hữu Khâm

-Văn Hữu Lăng Nhất Lang

-Văn Hữu Hiếu

-Văn Hữu Đông Nhị Lang

-Văn Hữu Thái

-Văn Phước Mẫn

-Văn Hữu Tường Nhất Lang

-Văn Hữu Hài

-Văn Phước Quan Nhất Lang

-Văn Hữu Thọ

-Văn Hữu Đắc

-Văn Hữu Thời

-Văn Hữu Trà Nhất lang

-Văn Hữu Thiên Thu

-Văn Hữu Lập

-Văn Hữu Trí Nhất lang

-Văn Hữu Láng

-Văn Hữu Hiển Nhất Lang

-Văn Hữu Đơn

-Tòng Quân Tân Nhất Thời Thiên Sơn Bá : Văn Hữu Tặng Tam Lang

-Văn Hữu Chuyết Quý Lang

-Văn Hữu Thế Nhất Lang

-Văn Hữu Hán Quý Lang

-Văn Hữu Yêm Nhị Lang

-Văn Hữu Trịnh Nhất Lang

-Văn Hữu Duyên Nhị Lang

-Văn Hữu Tuyến

-Văn Hữu Đẩu

-Văn Hữu Lợi

-Văn Hữu Lộc

-Văn Hữu Ủy

-Văn Hữu Hốt

-Khiếu Danh Thượng Bi Văn Tú Tài   Nhất Lang

-Văn Hữu Oai  Nhất Lang

-Văn Hữu Uy Nhất Lang

-TòngQuân Thạch Bình Thuyền Nhân Tài Bá:Văn Hữu Mẫu Nhất Lang

-Văn Tất Dằng

-Văn Tất Đặng

-Văn Hữu Vy Nhất Lang

-Văn Hữu Đệ Nhị Lang

-Văn Hữu Tặng

-Văn Hữu Trí Nhất Lang

 

Phục Vị: Các Hiển Tỷ  Mưu Nhật, Mưu Nồng, Mưu Nhiểm.

Phục Vị : Cao Cao Tổ Hiển Tỷ Nhạn Môn Quận Văn Thị Niệm

                   Y Phu Cai Tri Khôi Nguyên Tử Chánh Thê : Văn Thị Nhiều

                   Y Phu Tòng Quân Nhất Thuyền Cai Tri Phó Tướng : Văn Thị Quý Nương, Văn Thị Thuần Tam Nương, Văn Thị Mai Tứ Nương, Văn Thị Quyến Quý Nương

Nhạn Môn Quận : Văn Thị Chuyết, Văn Thị Nghĩa, Văn Thị Nghị.

 

-Văn Thị Cố Tam Nương

-Văn Thị Ư Nhất Nương

-Văn Thị Luật Quý Nương

-Văn Thị Tịnh Nhất Nương

-Văn Thị Nghiệp Nhị Nương

-Văn Thị Tương Tam Nương

-Văn Thị Xây Quý Nương

-Văn Thị An

-Văn Thị Vên Nhất Nương

-Văn Thị Lộc Quý Nương

-Văn Thị Để

-Văn Thị Thiện

-Văn Thị Quyên

-Văn Thị Song

-Văn Thị Không

-Văn Thị Đang

-Văn Thị Dư

-Văn Thị Niên

-Văn Thị Thuật

-Văn Thị Quyết

-Văn Thị Hoa

-Văn Thị Khoa Tam Nương

-Văn Thị Dì Nhất Nương

 

 

  • Hiển Tỷ Nhạn Môn Quận : Văn Thị Phú.
  • Hiển Tỷ Y Phu Bà Lệnh Thuyền : Văn Thị Cập, Văn Thị Chư
  • Y Phu Nhất Thuyền Văn Thị Khẩn
  • Văn Thị Để
  • Văn Thị Xuất Nhị Nương
  • Cô Nam Nữ hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, nội ngoại, tôn thân đẳng chư hương hồn sai hồ cư ly, trần cảnh khổ lạc nan minh tư phùng thắng hội đạo tràng, quảng độ tế siêu, bĩ ngạn.

 

Đản Đệ Tử Thông Huy

Hạ tình vô niệM cúng vọng

Phật âm khích thiết bình dinh chi chí cẩn ý.

 

Tuế Thứ tân Tỵ niên ( 1461) bát nguyệt sơ thập nhật cự ý

(Trích sao tài liệu)

 

HỌ VĂN LÀNG THẾ CHÍ

 

Làng Thế Chí có hai Giáp: Giáp Đông và Giáp Tây, con cháu và nhà thờ họ Văn ở Giáp Tây, Thế Chí nay thuộc xã Điền Môn, huyện Hương Điền, tỉnh Bình Trị Thiên.

Họ có bản tộc Phả mới sao lại gần đây. Hoàng Thủy Tổ là Ngài Văn Công Lực, có sắc phong khai khẩn, kỵ ngáy 23 tháng 10(âm lịch), mộ táng tại địa phương.

Sinh hạ 4 Ngài là: Văn Công Ốc, Văn Công Tự, Văn Công Ịt cả ba Ngài đều có sắc phong khai canh và Ngài Văn Công Bà không có sắc phong. Họ có hai phái, Phái Nhất đứng đầu là Ngài Văn Công Ốc, Phái Nhì đứng đầu là Ngài Văn Công Tự, còn Ngài Văn Công Ịt và Ngại Văn Công Bà không rõ thế nào nên cả hai Phái đều phụng tự. Từ Ngài Hoàng Thủy Tổ và cả 4 Ngài con không rõ Bà, bốn Ngài con chỉ có mộ mộ phần chứ không có ngày kỵ.

Ở đây có khẩu truyền là: Họ Văn làng Thế Chí và Họ Văn làng Trùng Đồng đều là con cháu của Ngài Thủy Tổ họ Văn làng Phong Lai. Mà tính ra, ngày xưa con cháu nơi nào cũng muốn Thủy Tổ ở gần mình, cho nên con cháu Họ Văn làng Thế Chí qua làng Phong Lai bốc trộm mộ Tổ mang về, con cháu Họ Văn làng Phong Lai biết được, qua Thế Chí thuê người trộm lại mang về cất dấu kỹ một thời gian sau mới đưa ra an táng và đắp đất to cao từ lúc ấy đến bây giờ, con cháu ở Thế Chí theo giỏi thấy một đêm không thể bới hết đất trên mộ nên phải chịu thua.

Phả không nói rõ đời nhưng tính đến nay cũng vào khoảng 12 đời. Phả cũng không cước chú rõ Ngài Văn Công Lực do Ngài nào sinh hạ, và cũng không nói rõ từ đâu đến và đến thời gian nào, hoàn cảnh nào.

 

HỌ VĂN LÀNG SƠN TÙNG-PHONG ĐIỀN

CẢM TƯỞNG VĂN(1)

感偲文

Thiết nghĩ rằng: đất dưỡng nuôi, trời un đúc cho cây lớn lên trăm hoa phát tiết. Mãnh hình hài há không quyện giòng huyết thống cổ độ mù sương.

Trước thâm ân Tổ đức, cúi xuống tấc lòng, cõi tuyền đài bóng dáng mặc linh, phò trợ chốn dương trần hun hút, niềm thốn thấu mà non sông phải rợn.

Xiết nỗi cù lao đức trọng, một chút tình vương vấn.

Là con cháu, là tằng huyền, sống chết, còn mất lẽ không tưởng niềm dưỡng dục mà bổ! mà tu! E rằng một chút lưu tình đoái tưởng!

Nơi đây ghi dấu Tổ Tiên.

Cõi yên lặng làm linh thiêng đất Tổ.

Nén hương lòng thuật lại phụng tu, hồn cảm xiết ôm vương vô tận.

 

Năm Tân Dậu tháng bảy ngày hai mươi mốt. (21/7/1981)

 

(1)(Bài văn này mở đầu trang Gia Phả của Tộc Văn Hữu làng Sơn Tùng Thượng, BCH phụng sao)

 

HỌ VĂN LÀNG TRÙNG ĐỒNG

Làng Trùng Đồng ở ven bờ biển tỉnh Thừa Thiên, giáp tỉnh Quảng Trị, nay thuộc xã Điền Hải huyện Hương Điền tỉnh Bình Trị Thiên, đất đai chiếm một vùng rộng lớn, địa thế nơi dân cư rất đẹp, có ao hồ,có ít ruộng và đất trồng trọt, xem địa thế ở đây có thể đoán được là Trùng Đồng thành lập sớm trước một số làng khác ở ven bờ biển Thừa Thiên.

Làng có bốn Họ khai canh, Họ Văn đứng thứ ba, Họ có nhà thờ mới làm lại sau khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ. Từ đời thứ nhất đến đời thứ bảy Họ rất thịnh vượng con cháu đông đúc, nhà thờ to lớn. Khoảng đến cuối đời thứ bảy trở về sau cả làng bị dịch tể, đau ốm liên miên, các Họ trong làng đều bị suy sút, tiếp đến hai cuộc chiến tranh hống Pháp và chống Mỹ xâm lược, đến nay cả làng bị xơ xác không còn lại bao nhiêu nữa, riêng Họ Văn ta chỉ còn lại bảy người nam giới từ lớn đến bé.

Gia Phả Họ Văn bị giặc Pháp thiêu đốt cùng nhà thờ họ từ năm 1947. Sau đó con cháu ngồi suy nghĩ nhới lại chép thành một bản sơ đồ. Ngài Hoàng Thủy Tổ là Văn Chính (không có chữ lót). Sinh hạ bốn (4) người con là: Văn Quế Chăm, Văn Quế Khuê, Văn Phúc Đê, Văn Phúc Đâu. Từ Ngài Hoàng Thủy Tổ trở xuống chỉ ghi tên theo thứ tự từng đời, chứ không có Bà, không cước chú do ai sinh hạ, không ngày kỵ, không mộ chí, không Cô Bà (theo trong gia phả). Ngài Hoàng Thủy Tổ có sắc phong khai canh hàng thứ bảy, tính đến nay cũng khoảng 17 đời.

Họ có khẩu truyền là: Họ Văn Trùng Đồng và Họ Văn Thế Chí đều là con cháu Ngài Thủy Tổ Họ Văn Phong Lai, ngày xưa cũng muốn Thủy Tổ ở gần mình nên có ý đồ qua Phong lai bốc trộm mộ Tổ, nhưng bị lộ, con cháu ở Phong Lai tổ chức canh giử cẩn mật và đắp đất cao to để bảo vệ, con cháu ở Trùng Đồng theo giỏi thấy một đêm không thể bới hết đất trên mộ, đành phải rút lui.

 

LỜI BÀN

Đây là tổng quan Phổ Hệ Văn Tộc của hai huyện Quãng Điền và Phong Điền do Bác Văn Đình Triền sưu tầm và biên soạn vào năm Giáp Tý 1984, với mục đích xem như Gia Phả Của hai huyện. Tuy nhiên với các phần dẫn chứng xuất xứ nguồn gốc các Họ, Phái, Hệ, Chi… trong sự vận động thay đổi của xã hội tại hai huyện , đã cho chúng ta một tầm nhìn khác hơn, sâu xa hơn của Tổ Tiên chúng ta vào gần và hơn nữa thế kỷ trước.

              Hãy đọc và gặm nhấm những trang viết này, những trang viết đầy sự khổ đau và nước mắt của Bác Văn Đình Triền, mặc dù đã tuổi cao sức yếu, cũng cố gắng đem hết tàn lực và tâm huyết của cuộc đời mình, lưu lại cho hậu duệ mai sau  những gì còn sót lại của Tổ Tiên qua bao thăng trầm, gian khổ để có chúng ta ngày nay. Như Bác đã viết: “Với ý nghĩ nông cạn, với lời chân tình mộc mạc ghi lại để tham khảo”.

             Ánh sáng cuộc đời mình với nguồn gốc dòng giống, có thể một phần nào đó đã được lóe lên trong tâm tư những ai đang tìm về nguồn cội ở trong tập này.

BCH-HĐ Văn Tộc xin chân thành cảm ơn công đức của Bác đã cho phép chúng tôi được sao chép lại để lưu truyền trong Văn Tộc tỉnh nhà, và xin giới thiệu cùng tất cả Quý Ông, Bà, Cô Bác cùng tất cả anh chị em trong Tộc Văn cùng đọc.

HỌ VĂN LÀNG VÂN THÊ-HƯƠNG THỦY

SỰ THÀNH LẬP LÀNG VÂN THÊ

 

Đời vua Lê Thánh Tông năm Hồng Đức thứ I (1470) vẽ lại bản đồ chi tiết từng làng xã, vùng Bố Chánh, Thuận Hóa, Thừa Tuyên có 2 phủ, Phủ Triệu Phong có 2 Huyện, trong đó Huyện Tư Vinh (Vang) có 6 tổng, 52 xã phường ấp. Trong Ô Châu Cận Lục do Dương Văn An viết vào thời kỳ  nhà Mạc, đã chép chi tiết bản đồ làng xã do Hồng Đức vẽ năm 1470 thì làng Vân Thê thuộc Tổng Đường Pha, huyện Tư Vinh có 52 xã phường. Đây cũng là lần đầu tiên làng Vân Thê chính thức có tên trên bản đồ Việt Nam.

Từ ngày đầu sơ khai, làng Vân Thê thuộc Tổng Đường Pha, huyện Tư Vinh. Năm Mậu Ngọ Lê Chính Trị thứ I (1558) Chúa Nguyễn Hoàng đổi huyện Tư Vinh (Vang) thành Huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong thành phủ Quảng Đức. Năm Minh Mạng thứ III (1822) đổi Phủ Quảng Đức thành Phủ Thừa Thiên. Năm Minh Mạng thứ XVI (1836) phân chia lại bản đồ lập thêm 3 huyện mới là Hương Trà-Hương Thủy-Phú Lộc. Như vậy Phủ Thừa Thiên có 6 huyện, trong đó huyện Hương Thủy có 5 Tổng, 58 Xã-Phường. Làng Vân Thê thuộc Tổng Đường Pha-Huyện Hương Thủy-Phủ Thừa Thiên. (Danh xưng này có vào thời vua Minh Mạng thứ 16).

Làng được lập do công đức của các Ngài Thỉ Tổ khai canh mà dưới triều Gia Long năm thứ III (1805) đã có sắc phong công nhận * Họ Chính tôn có công  khai canh lập làng, lập Họ được gọi là: BÁT GIA KHAI CANH ghi rõ thần hiệu, kim vị, miệu duệ thứ tự phân minh như sau: CHẾ-NGUYỄN-PHAN-ĐỖ-TRẦN-HOÀNG-VĂN-LÊ, thờ tại đình làng. Trong đó Họ Văn ta là Thỉ Tổ Đệ Thất Khai Canh.

Do có công lao to lớn trong sự nghiệp giúp nước nuôi dân, mỡ mang bờ cõi, lập làng, lập Họ nên các Vua triều Nguyễn sắc phong cho công đức tưng Ngài của các Họ với các đạo sắc như sau:

本土神皇諱文桀戶國庇民憲有公德元贈保安正直又天東隅翊保中興靈扶加贈淨侯忠戥神

  • BỔN THỔ THẦN HOÀNG  HÚY VĂN KIỆT hộ quốc tỷ dân hiến hữu công đức nguyên tặng “ BẢO AN CHÁNH TRỰC HỰU THIÊN ĐÔNG NGUNG DỰC BẢO TRUNG HƯNG LINH PHÙ GIA TẶNG TỊNH HẦU TRUNG ĐẲNG THẦN”

本族開耕始祖戶國庇民憲有公德元贈翊保中興靈扶加贈諯肅尊神

  • BỔN TỘC KHAI CANH THỈ TỔ hộ quốc tỷ dân hiến hữu công đức nguyên tặng DỰC BẢO TRUNG HƯNG LINH PHÙ GIA TẶNG ĐOAN TÚC TÔN THẦN.

 

(Theo VÂN THÊ HƯƠNG SỬ  kỷ niệm 525 năm làng Vân Thê hình thành và phát triển 1995     -BCH-Văn Tộc)

 

 

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

I.-Phả ký

文族廷派世譜序

且夫木有其本,水其有源,本固而枝始茂鳥可昧昧,而罔知源遠而派,攸分詎忍昏昏而弗察倘置,若罔聞曷啼豪泉剝果而徒,生長於天覆地,載中也問以支從何肇渺不知其所.由派由孰分概弗明其所綮.自僅知眼前之昭穆罔曉前代之源流雖耳目,徒存知能不昧,而為萬物之靈,直輿草木無異可不羞,哉所以古聖王立有成法教以相承修其譜牒表其世系固欲期世世人民網常無例,置之憂祖考免遺亡之患也,為試觀墓必存其志惟憂世遠而難,稽石以樹其碑祇冀代洒而可考.況乎親親一脉之流露而忍棄之如遺母乃淪於禽獸,而罔覺乎要當遵聖賢之成法溯源本之由來修譜牒以長存居今自可稽古明世代,而特誌起後,可以承先始基勿壞非惟名字無索亂之憂,有本可稽方免祖考貽淪亡之歎,子子孫孫於焉而弗替繩繩繼繼猶是而振興豈不美哉此事所關非輕幸,勿置若罔聞而自棄也可.

甲寅孟春下澣-嗣孫光祿寺少卿領學部郎中文廷治拜序.

 

Dịch âm

Văn Tộc Đình Phái Thế Phổ Tự

Thả phù:Mộc hữu kỳ bổn thủy hữu kỳ nguyênBổn cố nhi chi, thỉ mậu điểu khả muội muội, nhi võng tri nguyên viễn nhi phái, du phân cự nhẫn hôn hôn nhi phất sát thượng trí, nhược vọng văn cát đề hào truyền lộc quả nhi đồ, sanh trưởng ư thiên phúc địa, tái trung dã vấn dĩ chi tòng hà triệu miểu bất tri kỳ sở. Do phái do thục phân khái phất minh kỳ khể. Tự cẩn tri nhãn tiền chi, chiếu mục võng hiểu tiền đợi chi nguyên lưu tuy nhĩ mục đồ tồn tri năng bất muội, nhi vi vạn vật chi linh, trật dư thảo mộc vô dị khả bất tu, tai sở dĩ cổ thánh vương lập hữu thành pháp giáo dĩ tương thừa tu kỳ phổ điệp, biểu kỳ thế hệ cố dục kỳ thế thế, nhân dân võng thường vô lệ, trí chi ưu Tổ Khảo miễn di võng chi hoạn dã, vi thí quan mô tất tồn kỳ chí, duy ưu thế viễn nhi nan, khể thạch dĩ thụ kỳ bi chỉ ký đại sát, nhi khả khảo. Huống hồ thân thân nhất mạch chi lưu lộ nhi nhẫn khí chi như di mẫu luân ư cầm thú, nhi võng giác hồ yếu đương tuân thánh hiền chi thành pháp, tố nguyên bổn chi do lai tu phổ điệp dĩ trường tồn, cư kim tự khả khể cổ minh thế đợi, nhi đặc chí khởi hậu, khả dĩ thừa tiên thỉ cơ vật hoại phi duy danh tự vô sách loạn chi ưu. Hữu bổn khả khể phương miễn Tổ Khảo di luân vong chi thán tử tử tôn tôn ư yên nhi phất thế tập tập kê kê do thị nhi chấn hưng khởi bất mỹ tai, thử sự sở quan phi khinh hạnh, vật trí nhược võng văn như tự khí dã khả.

Giáp Dần mạnh Xuân hạ cán, Tự tôn Quang Lộc tự Thiếu Khanh lãnh Học Bộ Lang Trung Văn Đình Trị. Bái tự.

 

 

II.-Sự nghiệp

文姓廷派譜牒記

溯夫我文姓為鴈門郡自古以來恭惟

始祖開拓于雲梯社,歷幾百年餘一脉肇培支,派蕃衍以至今日.惟攷其世系自始祖以前世遠失傳固無可考.

自始祖以後,前人纂修族普目錄列為十二派:第一文派,第二爪派,第三廷派, 第四克派, 第五拔派, 第六維派, 第七千派, 第八進派, 第九仲派, 第十先派, 第十一登派, 第十二曰派.

廷派乃第三派也而今為先焉,第一第二兩派闕也,此辰族譜列書每派自上考高高高高祖至每派顯考,此辰書顯考今稱為曾祖而址其中每世之下列書姓名如世系未得明晰肆今謹從舊普編輯,莫敢差錯以存名號今而後請于每派繼次續編以延世紀間.有或因乏嗣第一, 第二, 第七, 第十, 第十一, 等派皆闕,

或失編記致今無從稽續仍闕如也.惟廷派派中三枝,賴有我顯祖流光公究編遺草自

廷茶公以後世次詳明仍究之遺編廷派第壹枝諸忌日於五月十二日忌開始祖考文貴公即翁茶則以廷茶公為廷派始祖第查之大族祠堂目錄編本則廷茶公之上尚有五世:

-上考高高高高祖文廷請第壹世祖也.

-上考高高高祖考文廷石 是為第貳世.

-上考高高祖文廷議 是為第三世.

-高高祖文廷詩是為第四世.

-曾高祖文廷語是為第四世.

-廷茶公為第六世也.茲謹依族祠目錄編本請尊第壹派.

開始文宗肇祖鴈門郡,上考高高高高祖文彰貴公諡昭德府君(此依大族祠堂目錄所書神位題:開始文宗肇祖文彰貴公昭德府君神位.此大祠堂本族十二派同奉祀)

為第一一世其第一世謹以派中上考高高高高祖鴈門郡文廷請為廷派始祖繼之又遰世繼之至我孫方為第十四世此後子繼字續修庶使世字不失以衍本支于弗替也,可存圖本列為一冊而世系只書男派至如女派已于譜牒備載致圖本省之辰.

維新八年歲次甲寅正月下浣.

嗣孫:光祿寺少卿領學部郎中蒙四賞金磬佩星元理.文廷治謹識

Dịch nghĩa:

Phả ký Phái Văn Đình của Họ Văn làng Vân Thê.

 

Trong Nhạn Môn Quận họ Văn chúng ta, từ xưa cho đến nay, kể từ Ngài Thủy Tổ khai thác làng Vân Thê đã trải dài mấy trăm năm. Từ khi khởi đầu một mạch bồi đắp nên Chi, Phái lần hồi đông đúc cho đến ngày nay. Nhưng khi khảo cứu các thế hệ trước Ngài Thủy Tổ xa xưa thì nay đã thất truyền, không thể căn cứ vào đâu mà biết được. Tự Ngài Thủy Tổ về sau, các bậc tiền nhân đã chịu khó sắp đặt ghi chép mục lục tộc phổ và sắp ra làm mười hai Phái là:

1.- Đệ nhất Phái VĂN

2.- Đệ nhị Phái VĂN TẢO

3.- Đệ tam Phái VĂN ĐÌNH

4.- Đệ tứ Phái VĂN KHẮC

5.- Đệ ngũ Phái VĂN BẠT

6.- Đệ lục Phái VĂN DUY

7.- Đệ thất Phái VĂN THIÊN

8.- Đệ bát Phái VĂN TẤN (TIẾN)

9.- Đệ cửu Phái VĂN TRỌNG

10.- Đệ thập Phái VĂN TIÊN

11.- Đệ thập nhất Phái VĂN ĐĂNG

12.- Đệ thập nhị Phái VĂN VIẾT.

Phái VĂN ĐÌNH là Phái thứ ba mà nay lên làm Phái thứ Nhất, vì hai Phái đệ nhất VĂN và đệ nhị VĂN TẢO đã thất truyền. Nay theo các sách trong Tộc phổ thì mỗi phái đều có ghi từ Ngài Thượng Khảo CAO CAO CAO CAO Tổ đến Ngài Hiển Khảo của Phái. Nay xét theo các sách Tộc phổ trên thì từ Ngài Hiển Khảo đến Ngài Tằng Tổ, mỗi thế không ghi chép rõ ràng đầy đũ danh tánh. Nay cứ xin trích cẩn theo Tộc phổ cũ đã biên tập chứ không dám làm sai. Mong để lại danh hiệu cho đời sau mỗi Phái tiếp tục biên thêm. Hoặc có người không biết vì sao có sự thiếu nối tiếp của các Phái: đệ Nhất, đệ Nhị, đệ Thất, đệ Thập, đệ Thập Nhất (là những Phái đã khuyết)

Duy trong Phái VĂN ĐÌNH có ba Chi, thì Ngài Hiển Tổ Khảo chúng ta có thấy được ghi lại rõ ràng từ Ngài ĐÌNH TRÀ (NGÒ) cho đến các đời sau.

Nay khảo cứu những điều biên chép của Phái VĂN ĐÌNH về các ngày kỵ, như ngày kỵ mười hai tháng năm (12/5) của Ngài Khai Thủy Tổ Khảo Văn Quý Công tức Ông TRÀ. Vậy thì Ngài Đình Trà là Thủy Tổ của Phái VĂN ĐÌNH. Nay cứu trong mục lục của Đại Tộc Từ Đường, thì thấy biên các bậc trên của Ngài còn có năm đời:

1.- Bậc Thượng Khảo Cao Cao Cao Cao Tổ là VĂN ĐÌNH THỈNH, Tổ Đệ nhất.

2.- Bậc Thượng Khảo Cao Cao Cao Tổ Khảo là VĂN ĐÌNH THẠCH, Tổ thế thứ nhì.

3.- Bậc Thượng Khảo Cao Cao Tổ là VĂN ĐÌNH NGHỊ, Tổ thế thứ ba.

4.- Bậc Cao Cao Tổ là VĂN ĐÌNH THI, Tổ thế thứ tư.

5.- Bậc Tằng Cao Tổ là VĂN ĐÌNH NGỮ, Tổ thế thứ năm.

Ngài VĂN ĐÌNH TRÀ là Tổ của thế thứ sáu. Nay kính cẩn y theo mục lục của Đại Tộc đã ghi mà xin tôn Ngài làm Đệ Nhất Phái.

 

Ngài Khai Thủy mở đầu dòng dõi Họ VĂN (Vân Thê) là Bậc Thượng Khảo Cao Cao Cao Cao Tổ  VĂN CHƯƠNG, có tên thụy là CHIÊU ĐỨC PHỦ QUÂN.(Đó là theo thần vị đặt thờ trong nhà thờ Họ nguyên văn như sau: KHAI THỦY VĂN TÔNG TRIỆU TỔ VĂN CHƯƠNG QUÝ CÔNG THỤY CHIÊU ĐỨC PHỦ QUÂN THẦN VỊ. Trong đại từ đường của Họ ta có đũ mười hai Phái được thờ ở trên).

Vậy làm Bậc Đệ Nhất Nhất thế là Ngài VĂN CHƯƠNG (HAI CHỮ NHẤT)

Làm Đệ nhất thế Thượng Khảo Cao Cao Cao Cao Tổ là VĂN ĐÌNH THỈNH.

Kể từ Ngài Đệ nhất thế đến nay(1912) tính ra là đến mười bốn thế. Nay xin biên chép và vẽ lược đồ để hàng con cháu về sau theo sách này mà ghi con cháu nam, nữ.

Năm DUY TÂN thứ tám, tuế thứ Giáp Dần (1912) hạ tuần tháng giêng. Tự Tôn Quang Lộc tự Thiếu Khanh Lãnh Học Bộ Lang Trung, Mông Tứ Thưởng Kim Khánh VĂN ĐÌNH -VĂN ĐÌNH TRỊ nguyên lý cẩn thức.

 

 

HỌ VĂN LÀNG HÀ TRUNG-PHÚ VANG

Văn Viết Thiện

 

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

 

I.-Thân thế

a/- Nguồn gốc:

Họ VĂN VIẾT tại làng Hà Trung huyện Phú Vang Thừa Thiên Huế, có nguồn gốc từ Phái Văn Giai (Thanh khai-Thanh Chương-Nghệ An). Đến đời thứ sáu đến định cư tại Xã Hà Ngọc-Hà Trung-Thanh Hóa (theo gia phả tại Hà Ngọc-Hà Trung-Thanh hóa ghi vào khoảng năm 1400). Ngài Thủy Tổ Họ Văn Viết thuộc đời thứ ba tại Thanh Hóa (Tổng phả tại Thanh Hóa có 20-21 đời tính đến năm 2005) và thuộc đời thứ sáu tại Thanh Khai-Thanh Chương tại Nghệ An (Tổng phả tại Thanh Khai-Thanh Chương-Nghệ An có 23 đời). Theo tài liệu gia phả tại Hà Ngọc - Hà Trung - Thanh Hóa được sưu tầm thì Ngài Tổng Đốc húy  Dụ đã rời quê hương vào khoảng năm 1497-1500 cùng hai người em trai là ngài Cai Tri Phó Tướng húy Nhu.

b/- Thành lập làng:

 Vào thời kỳ Lê sơ (1428-1527) các cuộc di dân vẫn tiếp tục vào Châu Thuận Hóa. Hàng loạt các làng mới được thành lập. Một trong 39 làng mới thành lập thêm của Huyện Tư Vinh, Phủ Triệu Phong đó làng Bình Trị (Vĩnh Trị)-(huyện Tư Vinh có: 44 xã, 18 thôn 01 trang theo Nguyễn Trãi Địa dư chí). Đến năm 1553 trong Ô Châu cận lục của Dương Văn An thì huyện Tư Vinh có 67 xã thì không có tên Vĩnh Trị mà chỉ có Vinh Hoài, có phải chữ Hoài lại được thay tên, ví dụ như: Hoài Lai đổi thành Vu Lai, Vinh Hoài được đổi lại thành Vinh Hà  hay làng Hoài Tài được đổi tên là Mậu Tài v.v…vào triều các Chúa Nguyễn hay không? Song theo gia phổ của Họ được phụng sao vào năm Khải Định thứ 3 (1918) của Chi Phái An Khê Đà Nẵng ghi như sau: “Hiển tổ Văn Viết Tô, tố kỳ nguyên tắc tự Thừa Thiên phủ, Vĩnh Trị tổng, Hà Trung thôn.    

   顯祖文曰蘇.做其源則,自承天府,泳治總,河中社.而遊則見,廣南省,安溪村,結立傢居,徵雀田土,生下日繁,其世名字,恐後代,子孫鮮聞.而知之者.茲設立譜誌壹本,據次計列庶使,子子孫孫愊替引之焉耳 .

         奉計”

Làng Hà Trung ngày xưa thuộc Tổng Vĩnh Trị, huyện Tư Vang (Vinh), phủ Triệu Phong, lộ Thuận Hóa (hay Thừa Tuyên Thuận Hóa?) Nay là làng Hà Trung, xã Vinh Hà, Huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Làng được thành lập do 06 Ngài Cai Tri của 06 họ sau:

  1. Cai Tri Phó Tướng Thắng Lộc Hầu Văn Quý Công Tôn Thần.
  2. Cai Tri Phó Tướng  Lãng Khê  Hầu Đặng Quý Công Tôn Thần.
  3. Cai Tri Phó Tướng Đông Triều Hầu La Quý Công Tôn Thần.
  4. Cai Tri Phó Tướng Phò Nam Hầu Trần Quý Công Tôn Thần.
  5. Cai Tri Phó Tướng Oai Lệ Hầu Mai Quý Công Tôn Thần.
  6. Nhị Vị Bùi Quý Công

 (Theo hòm bộ làng Hà Trung)

Trong đó Họ Văn được xướng danh đầu tiên trong những lần làng tế vào các dịp xuân, thu.

☻ Theo khẩu truyền thì Họ Văn là họ khẩn hoang lập làng đầu tiên và rất lâu sau các họ tộc khác mới đến. Điều này cũng dễ nhận thấy là làng Hà Trung có 06 thôn,  Họ Văn có 05 nhà thờ  Phái ở 06 thôn đó và hậu duệ mổi thôn theo gia phổ của các Phái đã có từ 15 đến 18 đệ thế. Và cũng theo truyền khẩu của các vị cao niên trong Họ thì tên làng là do Ngài Cai Tri Phó Tướng Thắng Lộc Hầu Văn Quý Công đặt tên. Có thể Ngài lấy tên làng tại Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa nơi quê hương của Ngài để đặt tên cho vùng đất mới do tự tay Ngài khai khẩn, để cho con cháu hậu duệ biết được nguồn gốc quê hương của họ tộc mình.

 ☻Có một khẩu truyền vế sau cho rằng: Do tính cách của vị trí địa lý của làng:

  • Phía Đông giáp: Phá Tam Giang.
  • Phía Tây giáp: Xã Vinh Thái + Đầm Cầu Hai.
  • Phía Nam giáp: Đầm Cầu Hai.
  • Phía Bắc giáp: Xã Vinh Phú + Phá Tam Giang.

Do bốn hướng đều có Đầm Cầu Hai và Phá Tam Giang bao bọc nên được đặt tên là Hà Trung (河中) (vị trí ở giửa sông nước).

Song cho đến nay từ trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An viết vào năm 1553 hoặc trong địa bạ của làng Hà Trung vẫn chưa ai biết rõ xuất xứ của chữ Hà Trung và ở vào thời kỳ nào?

Theo phả của Họ Văn Viết Hà Trung. Vào năm 1497 năm Hồng Đức thứ 28 vào thời kỳ Vua Lê Thánh Tông, Ngài Văn Viết Dự và em trai thứ ba của Ngài là Văn Viết Nhu vào đất Thuận Hóa để trấn giử và khẩn hoang lập làng tại vùng biên cương phía Nam của Đại Việt. Sau đó đưa mẹ và gia đình của người em trai thứ hai là Văn Viết Ngày vào định cư lập nghiệp. Do hai Ngài trên không có người nối tự, nên hiện nay gia phả của Họ Văn Viết Hà Trung do Ngài Văn Viết Ngày đứng đầu.

 Còn  hai Ngài khai phá đầu tiên, sau khi cáo lão hồi quan, do có nhiều công lao đối với đất nước với nhân dân, được triều đình phong sắc như sau:

* Ngài Văn Viết Dự, sắc phong:

  • Đại Nam Tiền Triều Tổng Đốc Kiêm Long Hầu Văn Quý Công Tôn Thần.

大  南  前  朝  總  督  兼  龍  侯  文  貴  公  尊 神

* Ngài Văn Viết Nhu, sắc phong:

-   Cai Tri Phó Tướng Thắng Lộc Hầu Văn Quý Công Tôn Thần.

該 知 副 相 勝 祿 侯  文 貴 公 尊 神

Được trí tự điền ( 07 sào) và lập miếu thờ, dân làng phụng cúng trong các lễ Thanh minh và xuân, thu hàng năm. Cho đến năm 1975 số ruộng trên đã sung vào tài sản nhà nước đem phân chia cho dân làng, và họ tộc đã thỉnh Linh Vị của hai Ngài về phụng thờ tại tự đường Đại tôn.

Cho đến nay họ Văn tại làng Hà Trung đã trở thành một đại tộc trong làng, có từ 18-19 đệ thế, nếu tính cứ 25-30 năm cho mổi đệ thế có thể khoảng niên đại của sự hình thành Họ Văn Hà Trung vào các năm 1500-1520.

II.- Sự Nghiệp

a/- Dân số:

Họ VĂN VIẾT tại làng Hà Trung huyện Phú Vang Thừa Thiên Huế, có nguồn gốc từ Phái Văn Giai (Thanh khai-Thanh Chương-Nghệ An). Đến đời thứ sáu đến định cư tại Xã Hà Ngọc-Hà Trung-Thanh Hóa (theo gia phả tại Hà Ngọc-Hà Trung-Thanh hóa ghi vào khoảng năm 1400). Ngài Thủy Tổ Họ Văn Viết thuộc đời thứ ba tại Thanh Hóa (Tổng phả tại Thanh Hóa có 20-21 đời tính đến năm 2005) và thuộc đời thứ sáu tại Thanh Khai-Thanh Chương tại Nghệ An (Tổng phả tại Thanh Khai-Thanh Chương-Nghệ An có 23 đời). Theo tài liệu gia phả tại Hà Ngọc - Hà Trung - Thanh Hóa được sưu tầm thì Ngài Tổng Đốc Văn Viết Dụ đã rời quê hương vào khoảng năm 1497-1450 cùng hai người em trai là ngài Cai Tri Phó Tướng húy Nhu.

 Do Ngài Tổng Đốc là quan ở trong triều phải “tịnh thân” nên vô tự. Sau một thời gian mới đưa em kế là Thủy Tổ Văn Viết Người húy Nhân vào lập nghiệp. Cho đến nay tại Hà Trung- Phú Vang đã có từ 17 đến 18 đệ thế.

Hiện nay Họ Văn Viết Hà Trung đang có 4 thế hệ cùng nhau phụng sự Tôn Tộc.

Theo thống kê đến tháng 12 năm 2010. Tổng số con cháu trong Tộc Văn Viết có: gần 1000 người cả nam lẫn nữ. Trong đó:

a/- Về độ tuổi:

  • Từ 80- 90 trở lên : có 2% dân đinh trong họ.
  • Từ 70-80 : có 10% dân đinh trong họ.
  • Từ 60-70 : có 40% dân đinh trong họ.
  • Còn lại hơn 50% là trong độ tuổi học sinh và lao động chính .

b/- Về học vấn:

  • Phổ thông cơ sở: có 50% dân đinh trong họ.
  • Phổ thông trung học: có 43% dân đinh trong họ.
  • Đại học: có 5,3% dân đinh trong họ.
  • Trên đại học: có 0,7% dân đinh trong họ.

c/- Về kinh tế:

  • Nông ngư nghiệp: có 50% dân đinh trong họ.
  • Thương nghiệp và các dịch vụ khác: có 30% dân đinh trong họ.
  • Hành chánh sự nghiệp: có 20% dân đinh trong họ.

III.- Địa bàn dân cư:

1/- Sự phân tán dòng tộc

Gồm các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

a.- Chiến tranh và Thiên tai:

-Vào các năm Nhâm Thân 1752 hay năm Giáp Ngọ 1774 và Ất Sửu 1775. Tại Thuận Hóa gặp thiên tai hạn hán, dịch bệnh đậu mùa, nạn đói lớn xảy ra, xác người chết đầy đường, lại thêm cuộc chiến giửa Trịnh-Nguyễn vào tháng 10 năm 1774. Quân Trịnh tiến vào Đàng Trong dễ dàng. Chúa Nguyễn Phúc Thuần phải triệu Tôn Thất Nghiễm đang chống giữ Tây Sơn ở mặt Nam về đối phó với quân Trịnh. Sau khi vượt sông Gianh vào tháng 11 quân Trịnh đánh chiếm đồn Cao Lao, dinh Bố Chính, dinh Lưu Đồn, dinh Trạm và dinh Cát (Quảng Bình-Quảng Trị-Thừa Thiên ngày nay). Chúa Nguyễn ở tình thế nguy ngập, phải giao nộp quyền thần Trương Phúc Loan và vàng bạc cho tướng nhà Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc để xin quân Trịnh bãi binh nhưng quân Trịnh vẫn tiếp tục tiến đánh. Quân Trịnh chiếm thành Phú Xuân. Chúa Nguyễn Phúc Thuần mang gia quyến chạy vào Quảng Nam.

b.- Sự tư hữu và Kinh tế :

Tư tưởng gia trưởng của các triều đại phong kiến đã đi sâu vào trong tư tưởng của con người, cũng như đã nói ở trên sự tư hữu về của cải vật chất cũng như tinh thần đã nảy sinh ra mâu thuẩn trong nội bộ thân tộc, hoặc do kinh tế khó khăn phải ly hương kiếm sống, lâu ngày không thể trở lại cố hương, dần dần qua nhiều đời, nhiều thế hệ đã lập thanh một chi phái, thậm chí còn gọi là Họ riêng cho mình.

 

2/- Địa bàn sinh sống

Đời sống con dân trong Tộc Văn Viết hầu hết được ổn định, không có hộ nghèo khó, và đã an cư lạc nghiệp, sinh sống rãi rác trong Tỉnh, trong nước và nước ngoài như sau:

  • Trong Tỉnh: tại các huyện như: Huyện Phú Vang (tại các xã: Vinh Hà, Vinh Hưng), Huyện Hương Thủy (tại các xã: Thủy Thanh, Lương Văn, Thủy Châu, Thủy Phù), Huyện Phú Lộc (Vinh Hiền, Lộc Thủy).
  • Ngoại Tỉnh: Thành Phố Đà Nẵng (Thanh Khê). Quãng Nam (Xã Phú Thọ-Quế Sơn)
  • Ngoài ra còn sồn rãi rác ở các tỉnh và thành phố khác như: Tp Hồ Chí Minh, Gia lai, Daklack. Kontoum v.v… và nước ngoài (Anh, Mỹ)

(Thống kê các địa bàn con dân Tộc Văn Viết đã định cư từ 6 đời trở lên)

                                       ₪₪₪₪₪₪

B.- PHẦN CÁC PHÁI, CHI

 

Vào khoảng thời Lê Cảnh Hưng (1742), các năm Nhâm Thân (1752),Giáp Ngọ (1774) hai nạn đói lớn xảy ra tại Thuận Hóa, xác chết đầy đường, nhân dân ly tán. Hay trong cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn một số Tiên Tổ làm quan trong triều Chúa Nguyễn Phúc Thuần, đã cùng con dân Văn Viết Tộc sơ tán khắp nơi để lánh nạn, kiếm sống. Chỉ còn lại tại Hà Trung ba bốn phái, song mỗi phái chỉ có một hai chi, còn lại di tha phương và cho đến mãi về sau này mới quy tụ được, nhưng vẫn chưa đầy đũ con cháu của bảy Ngài Thủy Phái có tên trên. Nay các vị Tiên Tổ được kê sau có một số Phái tương đối rõ ràng đầy đũ, còn một số Chi, Phái do các Ngài Tiên Tổ đời trước không ghi lại (lý do cũng như đã trình bày trong phần đầu của Phả Ký). Dù không được thông suốt mạch nguồn. Chúng tôi cũng xin ghi vào đây để tiện cho các đời sau dễ truy tầm, nghiên cứu.

Hiện nay các hậu duệ Văn Viết Tộc Hà Trung-Phú Vang đã có từ 17 đến 18 đời,  đang sinh sống tại các địa phương như sau:

-Tại Cầu Hai Phú Lộc là hậu duệ của Ngài Tiên Tổ Văn Viết Quế làm Thủy Phái thuộc Phái Sáu.

-Tại Vinh Hưng,Vinh Hiền và Hà Trung II là hậu duệ của Ngài Văn Viết Định, đời thứ IV làm Thủy Phái thuộc Phái Nhất.

-Tại Lợi Nông- Hương Thủy và Phú Thượng-Phú Vang là hậu duệ của các Ngài Văn Viết Huy và Văn Viết Kha đời thứ VII làm Thủy Chi thuộc Phái Nhất.

-Tại Thanh Khê Đà Nẵng là hậu duệ của Ngài Văn Viết Lương. đời thứ IV làm Thủy Phái, thuộc Phái Ba.(do Ngài Văn Viết Hành không rõ tông tích nên nay gia phả được ghi là Phái Nhì)

- Tại Quãng Nam ở hai huyện Duy Xuyên và Đại Lộc có hai Chi Phái Văn Viết là hậu duệ của Ngài Văn Viết Câu đời thứ VIII làm Thủy Chi, chưa rõ Phái nào ?

- Còn tại quê hương có bốn phái gồm : 01 Chi của Phái Nhất, Phái Nhì, 01 Chi của Phái Ba, Phái Tư và Phái Năm. Song con cháu các đời sau của các Chi, Phái trên sống rải rác các tỉnh, thành phố có nhiều nơi đã có đến 7-8 đệ thế.

Mặc dù do nhiều hoàn cảnh kinh tế, chiến tranh hay thiên tai dịch bênh …. mà phải ly hương, song mộ phần của Ngài Trưởng các Phái, các Chi cũng đều an táng tại quê hương. Cho nên hàng năm đến ngày Đông Chí con cháu các Chi, Phái ở phương xa đều tề tựu dâng hương, tảo mộ đồng đũ.

Tại nhà thờ Họ hàng năm có các ngày húy kỵ sau :

1.- Ngày Đông Chí.- Ngày lễ tế Tổ và các Liệt vị Tiên tổ (thường gọi là chạp Họ lớn)

2.- Ngày hiệp kỵ - Ngài Thủy Tổ, các Ngài Thủy Phải và các Liệt Vị Tiên Tổ vô tự - vào ngày 02 tháng 12 âm lịch .

3.- Ngày kỵ của Ngài Tổng Đốc vào ngày 29 tháng 3 âm lịch.

4.- Còn các Chi, Phái có ngày hiệp kỵ và chạp riêng của từng Chi, Phái của mình.

Họ Văn Viết tại làng Hà Trung Phú Vang có thêm một truyền thống lâu đời là : ngoài các ngày húy kỵ và chạp chung của Họ trên, các Chi, Phái khác dến ngày chạp của Chi, Phái mình đều có sự tham dự của các trưởng Chi, Phái và Trưởng họ đến dâng hương. Hàng năm dến ngày mồng một Tết Nguyên đán, các trưởng Chi, Phái đến dâng hương Tiên Tổ tại Từ Đường rồi cùng nhau đi dâng hương và thăm hỏi tại nhà thờ các Chi, Phái .

 

Câu đối tại nhà thờ

         

           

Dịch âm

Thiên lý vân diêu đôn đốc nhất đường chi tụ

Bách thế tuy viễn hữu do đồng thất chi thân

                                                                                                                             Dịch nghĩa

Ngàn dặm trời mây hăy gọi nhau về họp mặt,

Trăm đời tuy xa tình thân tộc vẫn một nhà.

 

文曰千支歷世子孫皆發盛

鴈門正郡千年苖裔制連榮

                                                                            文廷化題贈

Dịch âm

Văn Viết thiên chi lịch thế tử tôn giai phát thạnh

Nhạn Môn Chánh Quận thiên niên miêu duệ chế liên vinh

                                                               Văn Đình Hóa (Q-Điền) đề tặng

 

CHI PHÁI VĂN VIẾT LÀNG TRIÊM ÂN-PHÚ MẬU-PHÚ VANG

Trích từ: sites.google.com/site/vantochue/

Đôi lời vào tập.                                                                  Ls: Văn Viết Lộc

Gia phả là lịch sử  của một gia đình, của một dòng họ. Thời trước họ nào cũng có gia phả, con cháu phải luôn gắng sức giữ gìn xem như là vật “Gia bảo” của Tổ tiên bao đời truỵền lại, là những điều hay lẽ phải mà Tổ tiên muốn gởi gắm cho con cháu muôn đời sau.

Hiện nay, sau bao năm chiến tranh loạn lạc, nên nhiều họ không còn gia phả con cháu nhiều lúc cùng ở trong một địa phương vẫn không biết nhau, không còn nhận ra quan hệ họ hàng ruột thịt, nên nghĩa tình ngày một nhạt phai.

Ông Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, trong quyển “Một lối chép gia phả thật đơn giản” đã có nhận định xác đáng về gia đình và gia tộc như sau:

«Phạm vi của gia đình không phải chỉ có vỏn vẹn một ít người là cha mẹ, con cái, mà thật ra nó bao gồm cả tổ tiên, cụ kỵ, ông bà của chúng ta nữa. Bởi vậy, nếu mọi người không muốn cho con cháu của mình thành những người lạc lõng giữa một tập thể quốc gia rộng lớn và lúc sống cũng như khi chết không đến nỗi mờ mịt với nguồn gốc cội rễ của tổ tiên, ông bà, thì mình phải có bổn phận phục hồi lại tất cả những gì nó liên quan tới những người đã khuất (là tổ tiên cụ kỵ…)

«Vậy thì 2 tiếng gia đình chỉ có thể biểu lộ đầy đủ được ý nghĩa của nó khi bao gồm cả người chết (Tổ tiên) và người sống (con cháu). Như thế khi nhắc đến gia đình, hiển nhiên còn phải nhắc đến nhiều người khác đã chết từ lâu, trước cả ông bà cha mẹ của mình - nhưng lại có rất nhiều công lao xây đắp nền móng cho cái gia đình mà mình đang hiện diện trong đó. Hơn nữa, thuật lại những gì đã xảy ra ở trong gia đình, cũng không phải là chỉ kể câu chuyện hiện tại xảy ra ngay trong đời sống của mình, mà còn phải nhắc đến nhiều sự việc liên quan tới gia đình từ trước kia ở xa mãi bên trên cả ông bà cha mẹ mình nữa. Những sự việc không tên ấy là một chuỗi dài lịch sử xẩy ra nhiều năm về trước dệt thành một tấm màn dày đặc che kín một khoảng trống thật lớn ở bên trong gia đình mà những kẻ làm con cháu chưa hề được biết tới bao giờ…»

Xem thế, mới hay rằng phục hồi Gia Phả là việc cần kíp nên làm. May mắn thay, Họ Văn Viết …chúng ta còn lưu giữ được phần sơ lược tộc họ từ đời ông Cao tằng tổ khảo Văn Viết Hội (Đời thứ 1) cho đến hết đời thứ 6. do Ông Văn Viết Quế (đời thứ 5) Phụng lập.

Về vấn đề thứ bậc trong Gia tộc ông Nguyễn Đức Dụ cũng viết thêm rằng:

«Gia tộc Việt Nam xưa nay chia làm hai bậc: một là nhà hay tiểu gia đình, gồm cha mẹ vợ chồng con cái; hai là họ hay đại gia đình, gồm tất cả mọi người cùng chung một ông tổ sinh ra, kể cả người chết và người sống, tức là «gia tộc», gồm có một chi trưởng với  nhiều chi thứ. Những người liên hệ trong một gia đình thì thường là cụ, kỵ, ông bà rồi đến cha mẹ, còn ở bên trên nữa thì có ông Cao tổ cho đến Thủy tổ. Còn ở dưới thì có con, dưới con có cháu dưới cháu là chắt, và dưới chắt là chút (hoặc huyền tôn), cho đến ở xa dưới nữa thì đều gọi chung là viễn tôn. Từ Cao tổ trở xuống đến huyền tôn thì gọi là Cửu tộc.»

Như vậy, tính từ thời Ông Cao tằng  Tổ khảo cho đến nay, dòng họ Văn Viết …chúng ta đã truyền đến đời Huyền tôn (chút).

Cửu tộc. Chín đời họ Văn Viết …đã và đang được con cháu kế thừa đời trước và truyên dẫn cho đời sau.

Người tiếp tục công việc này, chỉ mong đem một chút tấm lòng vì sự nghiệp của cha ông mà ghi lại. Mong  mỏi được sự đóng góp  của Chú, Bác, O, Gì, bà con Nội, Ngọai quan tâm chỉ bảo để sớm hoàn thành một cuốn Gia Phả như ý nguyện tâm huyết của cha ông.

(Thành Phố Hồ Chí Minh tháng 03 năm 2005  )

Phụ chú:

Chi Phái Văn Viết làng Triêm Ân, theo truyền khẩu của các bậc tiền bối- (Ngài Hiển Tổ của Ông Văn Viết Lộc)- thì Chi Phái này có nguồn gốc với Tộc Văn Viết tại làng Hà Trung-Phú Vang Thừa Thiên-Huế. Do tha phương lâu đời nên gia phả chỉ biết tên Ngài Thỉ Tổ của Chi Phái là Ngài Văn Viết Hội. Theo Gia Phả Tộc Văn Viết Làng Hà Trung có tên Ngài Văn Viết Hội  thuộc đời thứ 7 của phái Nhì do ông Văn Viết Tô sinh hạ. So sánh với toàn phả hệ của tộc Văn Viết làng Hà Trung có 17 đời và toàn phả hệ của Chi Văn Viết làng Triêm Ân có 9 đời, xem ra có sự trùng hợp đáng ghi nhận. Tuy nhiên phần sinh hạ của  Ngài Văn Viết Hội của hai bản phả của Hà Trung và Triêm Ân thì không trùng lập.

Chúng tôi xin trích sao 06 đời cây phả hệ Chi Văn Viết làng Triêm Ân, để tiện việc khảo cứu đối chiếu với Tông đồ phả hệ Tộc Văn Viết Hà Trung. Mong tìm ra cội nguồn.

BCH Tộc Văn TT-Huế

 

 

HỌ VĂN TRÙNG ĐỒNG – THẾ CHÍ

 

Họ Văn Thế Chí có bút tích thì Ngài Thủy Tổ lót chữ Công trùng hợp với chữ lót của nhiều Ngài Tiên Tổ của Phái Nhất Họ Văn ta nhưng chưa đũ bằng chứng để kết luận là Ngài Thủy Tổ Họ Văn Thế Chí là con cháu của Phái nhất Họ Văn Phong Lai, còn Họ Văn Trùng Đồng từ Ngài Thủy Tổ đến các Ngài Tiên Tổ không chổ nào trùng hợp với Phả Họ và Phả các Phái Họ Văn ta. Về thời gian, hoàn cảnh và ở đâu đến, ở đây cả hai Họ đều không nói đến, nhưng đặc biệt về khẩu truyền mộ Tổ thì Trùng Đồng, Thế Chí, Lai Trung, Phong Lai, Lai Hà đều tương tự. Trùng Đồng, Thế Chí, Lai Trung đã nói ở trên, còn Phong Lai, Lai Hà cũng khẩu truyền từ xưa để lại là: “Mộ Ông Bà Hoàng Thủy Tổ đưa từ Lai Trung về Phong Lai hợp táng, con cháu ở Thế Chí qua bốc trộm trong đêm đưa về cất dấu trên rầm thượng nhà thờ Họ, con cháu ở Phong Lai thăm dò biết được đưa tiền thuê một người trộm “tài danh” (chuyên nghề ăn trộm giỏi nổi tiếng) qua Thế Chí trộm lại đưa về, Họ Văn Phong Lai cũng cất dấu tại rầm thượng nhà thờ Họ, dùng nhiều lớp rương hòm đố bản và then khóa thật kỹ, cắt phân con cháu canh giử, sau 6 tháng mới đưa ra an táng, cũng cứ cắt phiên canh giử và hằng ngày gánh đất đổ to cao từ đó đến nay, để khỏi sợ con cháu của Họ ở các làng khác dòm ngó”.

Qua khẩu truyền đặc biệt này cho ta khẳng định rằng: Không thể tự dưng mà 5 Họ ở 5 làng xa cách nhau hàng mấy chục kilomet lại cách trở động cát bạch sa và phá Tam Giang mà hoàn toàn trùng hợp như vậy được. Với mối quan hệ đặc biệt cũng từ xa xưa để đến ngày nay là: Mổi lần mổi Họ ở mổi làng có tế lễ lớn như “lạc thành” thì các Họ ở các làng đều đi “Châu án” đồng thời các xã Họ Văn cũng đi dự lễ, và hàng năm Họ Phong Lai tảo mộ Tổ thì các Họ đều cử người đến cùng tảo mộ với Họ Phong Lai. Lệ này từ khi kháng chiến chống Pháp xâm lược 1947 trở về sau, các làng đều bị địch chiếm đóng, sự đi lại gặp nhiều khó khăn trở ngại có khi nguy hại đến tính mệnh nên các Họ giảm lệ hàng năm đến Phong Lai tảo mộ Tổ, mà chỉ đi lại với nhau những khi có lễ lớn.

Tuy không đũ bằng cớ để biết rõ là Ngài Thủy Tổ Họ Văn Phong Lai, Lai Hà, Lai Trung với các Ngài Thủy Tổ Họ Văn Trùng Đồng, Thế Chí, họ nào lớn họ nào nhỏ, họ nào anh họ nào em, hoặc cha con, ông cháu một cách cụ thể. Nhưng qua khẩu truyền đặc biệt với mối quan hệ đặc biệt xiết chặc tình cảm nồng thắm giửa các Họ Văn ở các làng và cũng xiết chặc các làng có Họ Văn với mổi Họ Văn ở các làng, mối quan hệ này có từ xa xưa vẩn giữ gìn bền chặc cho đến ngày nay. Tuy ở xa xuôi có nhiều cách trở nhưng Tổ Tiên chúng ta đều ôm ấp hoài bảo tốt đẹp là máu loãng còn hơn nước lạnh. Chúng ta sinh ở đời sau cố gắng giử gìn truyền thống tốt đẹp ấy mãi mãi.

Như vậy khẳng định rằng: Họ Văn Phong Lai, Lai Hà, Lai Trung, Trùng Đồng, Thế Chí là anh em ruột thịt, là cây một gốc, là nước một nguồn, là con một Tổ.

                                    

HỌ VĂN LAI TRUNG-LAI HÀ

 

Về Lai Trung, căn cứ vào mốc đá biên giới đang còn khắc chữ Vu Lai xã, căn cứ vào hai cuộc tranh tụng nhau giữa Phong Lai và Lai Trung, mộ Ngài Thủy Tổ Họ Văn và 5 Ngài Thủy Tổ của 5 Họ khai canh Giáp Lai Trung và xã Phong Lai từ Lai Trung đưa về an táng tại Phong Lai (riêng mộ Thủy Tổ khai canh Họ Phạm còn ở Lai Trung) mộ Tiên Tổ các Phái của 7 Họ một số đưa về Phong Lai, một số còn ở Lai Trung, các Phái của các Họ ở Lai Trung vẫn biên chép gia Phả Họ và Phái vào phụng tự, một số chứng tích đang còn ở Lai Thành khẳng định rằng: Phong Lai, Lai Hà, Lai Trung ngày nay là từ xã Vu Lai mà tách ra. Riêng về Họ Văn con cháu ở Lai trung vẫn chép gia Phả Họ và Phái để phụng tự lấy ngày 17 tháng 2 âm lịch làm ngày kỵ Tổ. Như vậy Họ Văn Phong Lai, Lai Trung, Lai Hà là một. Còn Lai Hà trước kia gọi là ấp nay gọi là thôn cũng xuất phát từ 4 Giáp Phong Lai mà tách ra, con cháu Họ Văn thì Phái nhất, Phái nhì, Phái tư rất đông đảo, ngày nay còn chung một xã, cùng chung một mộ Tổ, cùng chung nhà thờ Họ, đang gần đời nên sự hiểu biết còn dễ dàng, nhưng phải kịp thời rút kinh nghiệm thiếu sót của xa xưa mà ghi chép lại đầy đũ rõ ràng, cũng chỉ để phòng sự biến động nay mai của xã hội hoặc của gia tộc, quy luật xã hội mổi độ thời gian trôi qua nó cũng mang theo một gia đoạn lịch sử, ngày nay do sự phân công mới của xã hội, con cháu hưởng ứng chủ trương đi xây dựng vùng kinh tế mới tại miền Tây và miền cực Nam của Tổ quốc, thì việc ghi chép gia phả phải được đầy đũ rõ ràng là điều rất cần thiết. Bởi vậy sao chép lại lần này ở đầu bản Gia Phả ghi rõ là: GIA PHẢ HỌ VĂN PHONG LAI-LAI HÀ-LAI TRUNG, có như vậy thì đến năm bảy đời sau hoặc lâu hơn nữa, con cháu Họ Văn ta dù ở xa xuôi huyền viễn đến mấy đi nữa cũng hiểu biết và tìm ra gốc tích của mình.

 

Căn cứ vào tài liệu trên đây, xin đề xuất ý kiến về mối quan hệ gần xa giữa các Họ Văn Ta với các Họ Văn ở các làng nói trên và lý do các bản gia phả lâu đời của Họ Văn ta cũng như các Họ Văn của các làng nói trên không nơi nào còn.

 

LÝ DO PHẢ CŨ TỪ XƯA KHÔNG CÒN

 

Các bản gia Phả của Họ, Phái, Chi, Hệ Họ Văn ta cũng như các Họ Văn các làng nói trên, cũng như các Họ khai canh của làng ta và rất nhiều họ, phái khác nữa, những bản gia Phả cũ từ xa xưa không nơi nào còn lại, mà chỉ có những bản Gia Phả đã sao chép lại nhiều lần gần đây, đều thiếu trước hụt sau, mập mờ thế thứ, có Ông thiếu Bà, chỉ có Phả của Họ, Phái, Hệ họ Văn ta từ Ngài Thủy Tổ trở xuống chỉ thiếu một số rất ít, chứ đều có Bà, có ngày kỵ, có mộ chí. Bản sơ đồ Họ Văn Trùng Đồng từ Ngài Thủy Tổ trở xuống đều không có Bà. Còn các Họ khác có nơi đến năm bảy đời hoặc chín mười đời trở về sau mới có Bà. Gia Phả Phái III Lai Trung cước chú sao tại Phái III họ Văn Phong Lai nhưng cũng có chổ không trùng hợp với gia Phả Phái III họ Văn Phong Lai hiện nay.

Các chức tước lớn đã ghi vào gia Phả Họ, các Phái, các Hệ như Ông Bà Hoàng Thủy Tổ Tiên Tổ Văn Đình Bút (Phái I) có sắc phong Dực Bảo Trunh Hưng Dinh Phò Đoan Túc Tôn Thần, Tiên Tổ Văn Công Thành (Phái I) sắc phong Câu Kê Thanh Nghị Bá v.v…là những Ngài có công lao to lớn với các triều đại Chúa Nguyễn Phước tiếp đến các triều đại Nguyễn Thế Tổ có sắc phong họ tên rõ ràng. Cũng có Ngài có công lớn trong các triều đại ấy có sắc phong Thần nhưng gia Phả chỉ ghi sắc phong và thêm vào chữ Văn Qúy Công như Ngài Bổn Thổ Cai Tri Ba Thắng Hầu Văn Quý Công (Phái III), Ngài Cai Tri Kiện……….(bị sâu cắn mất ba chữ) Văn Quý Công (Phái I) v.v…Những thiếu sót trên đây ngày nay và cả mai sau không thể nào làm rõ hơn được.

 

-Sự thiếu sót, sai lạc trong các bản gia Phả có nhiều nguyên nhân như:

Sao đi chép lại nhiều lần bị sai sót dần. Cả dòng họ không biết chữ hay biêt chữ mà không tinh thông, phải thuê mướn các thầy Phù Thủy sao chép lại bản cũ hoặc dựng lên bản mới thì tùy ý chủ quan của người viết họ ghi chép sao thì về vậy. Ngày xưa vì quý trọng tên của Tiên Tổ, Cha Ông nên bản gia Phả rất tôn nghiêm, mổi Họ chỉ ghi chép có một bản, chỉ được phụng tự tại từ đường, mổi lần cần tra cứu phải có hương đăng khấn vái và Bác Trưởng mới được đưa ra, có khi hàng năm không để ý đến bị mối xông sâu cắn hoặc bị hỏa hoạn, thủy tai thì bị tiêu tan v.v….Nhưng có một nguyên nhân quan trọng chủ yếu nữa là: Gia Phả Họ, Phái, Hệ, Chi của ta có ghi: Ngài Hoàng Thủy Tổ ta từ Bắc Thành vào đây ổn định nơi ăn chốn ở lâu dài hay ghi rõ hơn là Ngài Thủy Tổ ta từ Bắc Kỳ Tiên Long Miêu Duệ đi theo Vua Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế vào trấn Thuận Hóa. Xét lịch sử Thuận Hóa từ ấy đến nay đã trãi qua nhiều phen binh lửa, nhiều cuộc biến cố lớn lao. Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế tức là Nguyễn Hoàng vào làm Tổng Trấn Thuận Hóa năm Mậu Ngọ 1558 (xem thêm cước chú ở Phả Họ), khi mới bước chân đến Quảng Trị thì đã đánh nhau với quận công Lập Bạo (tướng của nhà Mạc) (5). Diệt xong Lập Bạo nối nghiệp 9 đời xưng Chúa và xưng Vương Đến Đời Nguyễn Phúc Thuần năm Giáp Ngọ 1774 họ Trịnh sai Hoàng Ngũ Phúc đem quân từ Bắc vào trừng phạt. Họ Nguyễn Phước nối nghiệp qua ba đời.

Đến năm Bính Ngọ 1786 Nguyễn Tây Sơn nỗi dậy diệt thế lực Hoàng Ngũ Phúc và thế lực Nguyễn Phước còn lại. Nguyễn Tây Sơn xưng Hoàng Đế nối nghiệp được hai đời, đến năm Nhâm Tuất 1802 Nguyễn Ánh diệt Nguyễn Tây Sơn xưng Hoàng Đế thống nhất đàng trong và đàng ngoài. Chỉ với thời gian 244 năm mà mảnh đất Thuận Hóa phải chịu đựng 4 lần binh lửa can qua lớn lao, 4 lần tai họa đâu thương tang tóc, 4 triều đại thay nhau, thì cũng 4 lần báo oán đền ân, mà báo oán các triều đại phong kiến là:: chém giết, lăng trì, voi dày, bới mồ mả đổ xuống sông, lấy sọ dừa bổ ngục, đày ải nơi nước độc ma thiêng, tru dy tam tộc, triệt hạ xóm làng v.v…Tổ Tông chúng ta sinh cơ lập nghiệp trên mảnh đất Thuận Hóa đày gian nan và dũng cảm này, có người ra làm quan hoặc ủng hộ của một hoặc hai trong các triều đại này, sau khi bị thất bại phải thay họ đổi tên có khi phải đốt cả gia Phả để trốn tránh lánh nạn, hoặc bị binh lửa thiêu đốt, hoặc bị chôn vùi thối nát, hoặc bị giặc cướp mất tích, hay ở vào địa thế khúc ruột của miền Trung thường gặp bão to lụt lớn bị nước cuốn bão bay, vì những nguyên nhân ấy mà thời gian chưa lâu lắm mà Gia Phả cũ bị mất tích hết.

Đến lúc Thế Tổ Cao Hoàng Đế thống nhất cả nước nối nghiệp 13 đời xưng đé 113 năm là thời kỳ lâu dài và hưng thịnh nhất, khi ân oán xong xuôi củng cố nền thống trị, ổn định dân cư, mỡ mang bờ cỏi, khai phá nơi hoang rậm bùn lầy, thành lập làng mạc, nhà Vua phong sắc ban lộc cho những người có công lao lớn, những người đến lập nghiệp nơi mới khai phá sinh nở đông con cháu được phong Hoàng Thủy Tổ, những người đứng đầu khai phá đất ruộng được phong Khai Canh, những người choán đất, mộ người khai phá được phong Khai Khẩn, người đứng đầu bảo vệ an ninh một vùng được phong Thần Hoàng.

Vận mệnh của gia tộc nằm trong vận mệnh của Tổ quốc quê hương, củng lúc này trong dân gian cùng nhau tìm kiếm gia phả của Hệ, Phái họ mình còn được đoạn nào thì sao chép đoạn ấy, có những đoạn bị hư hỏng, hoặc có họ có Phái không còn nữa thí cùng nhau ngồi nhớ lại được chừng nào hay chừng áy (như Họ Văn Trùng Đồng hiện nay) cho nên có nơi chỉ có Họ và tên, không đời , không thứ, có sắc phong, có chức tước không có tên, vì ngày xưa những người có chức tước không hạn định lớn hay nhỏ, ở Hương thôn hay ở triều đình thì từ xưng hô đến viết thành văn tự đều được dùng chức tước và họ của người ấy để tỏ sự tôn kính, lâu ngày họ hàng làng xóm, thậm chí cả con cháu của người ấy cũng không biết tên gì mà chỉ biết tước thay cho tên. Nhiều nơi chỉ có tên Ông, còn Bà có nơi viết Quý nương, nơi viết Tịnh Bà, nơi viết Vị Tường v.v…Vì ngày xưa người đàn bà khi mới sinh ra có đặt tên ghi vào gia phả và kêu , gọi hàng ngày, đến khi có chồng lấy tên chồng gọi thay tên vợ, khi có đứa con đầu lòng thì lấy tên con thay cho tên cha, tên mẹ. Với ngày xưa có nạn “tảo hôn”. Gọi quen miệng lâu ngày họ hàng, xóm làng và cả cháu chắc cũng quên. Hơn nữa ngày xưa có tục lệ kiêng tên không bao giờ dùng đến từ ngữ tên cha mẹ, ông bà, tiên tổ của mình, thậm chí kiêng cho cả người xóm giềng và người ở trong dòng họ lâu ngày không nói đến dần dần mất hẳn. Có thể vì những nguyên nhân nói trên mà mất cả thời gian, không gian, hoàn cảnh của Tổ Tiên rời nơi chôn rau cắt rốn đi sinh cơ lập nghiệp nơi mới.

Như thế còn chưa đũ, đến tháng 8-1945 (Ất dậu) Nước Việt Nam Dân Chủ ra đời chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở nước ta, thì tháng 12-1945 cả dân tộc Việt Nam phải đứng lên kháng chiến cứu nước chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần nữa, kéo dài 9 năm, tiếp đến kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược đến tháng 4-1975 (Ất Mão) mới kết thúc. Các bản gia phả lại phải chôn vùi thối nát, hoặc bị giặc thiêu đốt hoặc cướp phá một lần nữa. Do đó mà đến nay có nhiều họ, nhiều phái làng ta và một số đông họ, phái các làng khác nữa đều bị tiêu tan không còn gì. Chổ này phải nói rõ để đời sau biết khỏi trách móc tại sao mà ghi chép quá sơ sài.

Song các bản gia Phả của Họ, các Phái, các Hệ họ Văn ta con cháu cả ba làng sớm thấy được sự nguy cơ trong cuộc chiến tranh ác liệt và lâu dài khó bảo tồn được bút tích của Tổ Tiên, cho dù các bản gia Phả của ngày trước để lại đơn giản, sơ sài thiếu sót, vẫn sao chép thành nhiều bản cất dấu nhiều nơi, có người xem nó là vật bất ly thân, nếu người còn sống thì vật vô giá ấy hảy còn. Thế mà cả ba làng còn lại hầu như nguyên vẹn, thật đáng quý đáng tự hào.

 

(5) tháng 8 năm Nhâm Thìn 1572 tướng nhà Mạc là Lập Bạo đem 60 binh thuyền vào cướp Thuận Hóa và Quảng Nam.(BCH-Văn Tộc)

 

THAY LỜI BẠT(6)

Vấn đề nghiên cứu tìm tòi cội nguồn gốc tích và những vấn đề quan trọng khác mà đã cách đây hàng thế kỷ trở về trước là một vấn đề lớn lao, phải có một thời gian tương đối lâu dài, họa may đáp ứng được yêu cầu mà chỉ được một phần nào. Song phải tạm dừng lại ở đây để sao chép lại những gì đang còn, cước chú những gì sáng tỏ thêm, và phải kịp thời chuyển từ chữ Hán xen kẻ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, thà rằng có mà chưa đầy đũ còn hơn cứ sưu tầm mãi, đợi cho đầy đũ đáp ứng được yêu cầu mới đi vào sao chép thì chưa biết đợi đến thời gian nào, ngày tháng vẫn cứ trôi qua, con người ngày thêm già cỗi, lỡ khi “nhất đán vô thường” thì mọi việc đang làm dở trở thành không. Vì vậy mà xin lược ghi lại những gì đã thấy đã nghe có liên quan đến việc tìm hiểu gốc tích cội nguồn, với không gian, thời gian, hoàn cảnh Ngài Hoàng Thủy Họ Văn chúng ta từ phương Bắc vào sinh cơ lập nghiệp nên xã Vu  Lai –Phong Lai-Lai Hà-Lai Trung trên mảnh đất Thuận Hóa ngày xưa mà Bình Trị Thiên ngày nay.

Với hoài bảo sẽ tiếp tục nghiên cứu tìm tòi thêm cho đến tận cùng, may ra giống nòi HỌ VĂN có được bản Gia Phả hoàn hảo với lòng mong mỏi. Nếu không may gặp sự trở ngại nào đó không thể thực hiện được thì cũng đóng góp một phần nhỏ với những ai máu huyết HỌ VĂN dòng giống NHẠN MÔN giàu lòng suy tư đến Tổ Tông nòi giống sẽ kế tục sưu tầm.

Trên đây với ý nghĩ nông cạn, với lời chân tình mộc mạc ghi lại để tham khảo.

Ngày 01 tháng 10 Giáp Tý tức 24 tháng 10 năm 1984

 

Văn Đình Triền

 

(6) Phần này tác giả không ghi chủ đề, chúng tôi khi sao lại tạm để: THAY LỜI BẠT. Mong tác giả thông cản.(BCH-Văn Tộc)

 

Còn tiếp

 

 

 

C.TỘC VĂN THỪA THIÊN HUẾ

NHỮNG NGƯỜI HỌ VĂN CÓ CÔNG VỚI NƯỚC VỚI DÒNG TỘC QUA CÁC TRIỀU ĐẠI.

 

      1-Văn Viết Dụ 文曰喻

大南前朝傯督兼龍侯文貴公尊神

Đại Nam Tiền Triều Tổng Đốc Kiên Long Hầu Văn Quý Công Tôn Thần.

開耕田土自上筸壚下至海雲山

Khai Canh điền thổ từ Thượng Can Lô đến Hải Vân Sơn

(gia phả Tộc Văn Viết Hà Trung-Phú Vang)

      2-Văn Nhân Thận  文仁慎

翌保中興靈扶加贈端肅尊神

Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù gia tặng Đoan Túc Tôn Thần

      3-Văn Nhân Bút  文仁筆

翌保中興靈扶加贈端肅尊神

大郎建耕私田

Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù gia tặng Đoan Túc Tôn Thần

Đại Lang Kiến Canh Tư Điền

(gia phả Tộc Văn Đình Phong Lai-Quảng Điền)

      4-Văn Viết Nhu 文曰柔

該知副相勝祿侯文貴公尊神

Cai Tri Phó Tướng Thắng Lộc Hầu Văn Quý Công Tôn Thần

(gia phả Tộc Văn Viết Hà Trung-Phú Vang)

     5-Văn Quý Công  文貴公

本土該知巴勝侯

Bổn Thổ Cai Tri Ba Thắng Hầu

(gia phả Tộc Văn Đình Phong Lai-Quảng Điền)

   6-Văn Chương  文彰

開始文宗肇祖雁門郡文彰貴公諡昭德府君

Khai Thủy Văn Tông triệu tổ Nhạn Môn Quận Văn Chương Quý Công thụy Chiêu Đức Phủ Quân

誥封本社開耕文大郎稔著靈應著封為翊保中興扶之神

Cáo Phong Bổn Xã Khai Canh Văn Đại Lang Nẫm trứ Linh ứng trước phong vị Dực Bảo Trung Hưng Phù Chi Thần

(gia phả Tộc Văn Đình Vân Thê-Hương Thủy)

   7-Văn Đình Cầu  文廷虬

永隆省藩司正九品

Ty Phiên Tỉnh Vĩnh Long chánh cửu phẩm.

(gia phả Tộc Văn Đình Vân Thê-Hương Thủy)

 

   8-Văn Đình Loan  文廷鸞

壽春王俯屬兵隊長

Đội Trưởng Thuộc Binh Vương Phủ Thọ Xuân

 

   9-Văn Đình Phong  文廷豐

原內務府正九品,維新四年十一月二十五日贈奉誠大夫翰林院侍講

啟定元年五月初十日加贈朝列大夫翰林院侍講學士

Nguyên nội vụ phủ Chánh cửu phẩm, Duy Tân tứ niên ngày 25 tháng 11 tặng Phụng Thành Đại Phu Hàn Lâm Viện Thị Giảng.

Khải Định nguyên niên ngày 10 tháng 5 gia tặng Triều Liệt Đại Phu Hàn Lâm Viện Thị Giảng Học Sĩ

元配: 枚氏,宋山縣人 –Nguyên phối: Mai Thị Thơm , người Huyện Tống Sơn

維新四年十一月二十五日贈從五品宜人

Duy Tân tứ niên ngày 25 tháng 11 tặng Tòng Ngũ phẫm Nghi Nhân.

啟定元年五月初十日加贈從四品恭人

Khải Định nguyên niên ngày 10 tháng 5 gia tặng Tòng Tứ Phẩm Cung Nhân

   10-Văn Đình Đăng  文廷登

原靖蠻三奇一隊,隊權一奇協菅

Nguyên Tịnh Man Tam Cơ Nhất Đội, Cai Đội Quyền Nhất Cơ Hiệp Quan.

元配:五品阮氏漻–Nguyên phối: Ngũ phẩm  Nguyễn Thị Sừng

   11-Văn Đình Kiên  文廷堅

從北圻軍次賞九品百戶

(Tòng quân thứ Bắc Kỳ thưởng cửu phẩn bá Hộ)

   12-Văn Đình Sừng  文廷

揀兵歷陞率隊咸宜元從亡捐軀贈武公都慰禁兵正隊姪文廷達龍衣蔭将為員子項

Giản binh lịch thăng suất đội Hàm Nghi nguyên niên tùng vong quyên khu tặng Võ Công Đô Úy Cấm Binh Chánh Đội điệt Văn Đình Đạt Long Y Ấm tương vị Viên

 Tử hạng.

     13-Văn Đình Kiêm  文廷兼

恭迎建福在藉田贈正九品百戶

Năm Kiến Phúc (1883-1884) được tặng chánh cửu phẩm rước về làng.

     14-Văn Đình Trị  文廷治

丙子(1876)科誠中秀才第一名致仕蒙賞金磬佩星領學部郎中

Đổ đầu Tú Tài khoa Thành Trung năm Bính Tý (1876). Chí sĩ mông tặng Kim Khánh Bội Tinh. Giử chức Học Bộ Lang Trung

     15-Văn Đình Giản  文廷柬

廕生補承天公使座通事陛翰林院待詔啟定元年.廕授翰林院供奉

Ấm sanh bổ Thừa Thiên Công Sứ Tòa Thông Sự bậc Hàn Lâm Viện Đải Chiếu Khải Định năm thứ nhất. Ấm thụ Hàn Lâm Viện Cung phụng.

 

     16-Văn ĐìnhTư  文廷木思  

廕生維新乙卯科文鄉誠中二場五月日庭桃中授翰林院供奉

Ấm sinh Duy Tân Khoa Ất Mão Văn Hương Thành Trung nhị trường ngũ nguyệt nhật đình đào trung thụ Hàn Lâm Viện cung phụng

(gia phả Tộc Văn Đình Vân Thê-Hương Thủy)

     17-Văn Thị Vũ tức Văn Thị Như lan   文氏       即文氏如蘭

Con gái của Ngài Văn Hữu Trung (Sơn Tùng)

                    有子:應慰官承府,上書部禮朝阮,顯祖仳學寶會

Có Con: Cụ Ưng Úy Thượng Thư Bộ Lễ. Bà Nội nhà Bác học Bửu Hội

(gia phả Tộc Văn Hữu Sơn Tùng-Quảng Điền)

     18-Văn Thị Thu   文氏

Con gái Ngài Văn Đình Thành (Vân Thê)

:提督京城尊室訂有子:尊室說上書部兵咸宜元年,尊室慧知縣,尊室例參辨

Chồng: Đề Đốc Kinh Thành Tôn Thất Đinh, có con là: Tôn Thất Thuyết Thượng Thư Bộ Binh Hàm Nghi năm thứ nhất, Tôn Thất Tuệ Tri Huyện, Tôn Thất Lệ quan Tham Biện

(gia phả Tộc Văn Đình Vân Thê-Hương Thủy)

     19-Văn Đình Khuôn  文廷匡

原授該知副將

Nguyên Thụ Cai Tri Phó Tướng

(gia phả Tộc Văn Hữu Sơn Tùng Quảng Vinh)

     20-Văn Đình Trực  文廷直

原授郎中部工

Nguyên Thụ Lang Trung Bộ Công

(gia phả Tộc Văn Hữu Sơn Tùng Quảng Vinh)

     20-Văn Đình Sách  文廷策

原授茂材部工部合使司該合策定子

Nguyên Thụ Mậu Tài Bộ Công, Bộ Hợp Sứ Ty, Cai Hợp Sách Định Tử

(gia phả Tộc Văn Hữu Sơn Tùng Quảng Vinh)

     21-Văn Quang Huy  文光輝

(Con Của Ngài Văn Đình Sách)

原授內務員外郎

Nguyên Thụ Nội Vụ Viên Ngoại Lang

(gia phả Tộc Văn Hữu Sơn Tùng Quảng Vinh)

     22-Văn Hữu Nỡ tức Tường 文有汝即祥

原授知部墻光

Nguyên Thụ Tri Bộ Tường Quang

(gia phả Tộc Văn Hữu Sơn Tùng Phong Điền)

 

……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

 

 

Tác giả bài viết: Văn Viết Thiện đưa tin

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Giấy phép sử dụng NukeViet

Bản dịch tiếng Việt của Giấy phép Công cộng GNU Người dịch Đặng Minh Tuấn Đây là bản dịch tiếng Việt không chính thức của Giấy phép Công cộng GNU. Bản dịch này không phải do Tổ chức Phần mềm Tự do ấn hành, và nó không quy định về mặt pháp lý các điều khoản cho các...

Thăm dò ý kiến

Bạn biết gì về NukeViet 4?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây